<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Bộ Trưởng Trần Đại Quang &#187; An ninh &#8211; Quốc phòng</title>
	<atom:link href="http://trandaiquang.net/cat/an-ninh-quoc-phong/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://trandaiquang.net</link>
	<description>Trần Đại Quang - Ủy viên Bộ Chính tri, Bộ trưởng Bộ Công an: Cuộc đời, Sự nghiệp, Hoạt động, Ý kiến của Bộ trưởng Trần Đại Quang.</description>
	<lastBuildDate>Sat, 25 May 2013 15:12:52 +0000</lastBuildDate>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	
<xhtml:meta xmlns:xhtml="http://www.w3.org/1999/xhtml" name="robots" content="noindex" />
		<item>
		<title>Xứng danh Tiểu đoàn ‘Đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng’</title>
		<link>http://trandaiquang.net/xung-danh-tieu-doan-di-khong-dau-nau-khong-khoi-noi-khong-tieng.html</link>
		<comments>http://trandaiquang.net/xung-danh-tieu-doan-di-khong-dau-nau-khong-khoi-noi-khong-tieng.html#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 25 May 2013 11:56:54 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Ban Biên Tập</dc:creator>
				<category><![CDATA[An ninh - Quốc phòng]]></category>
		<category><![CDATA[chiến sĩ đặc công]]></category>
		<category><![CDATA[hình ảnh đặc công việt nam]]></category>
		<category><![CDATA[đặc công]]></category>
		<category><![CDATA[đặc công nước]]></category>
		<category><![CDATA[Đặc công Việt Nam]]></category>
		<category><![CDATA[đặc nhiệm việt nam]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://trandaiquang.net/xung-danh-tieu-doan-di-khong-dau-nau-khong-khoi-noi-khong-tieng.html</guid>
		<description><![CDATA[Ngày 25/5/1973, tại xã Nam Nghĩa, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, Tiểu đoàn Trinh sát 12, Bộ Tham mưu Quân khu 4 được thành lập. Trải qua 40 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành với khẩu hiệu [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>Ngày 25/5/1973, tại xã Nam Nghĩa, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, Tiểu đoàn Trinh sát 12, Bộ Tham mưu Quân khu 4 được thành lập.</p>
<p>Trải qua 40 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành với khẩu hiệu “Đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng”, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn Trinh sát 12 luôn giữ vững bản lĩnh, ý chí, mưu trí dũng cảm; phát huy truyền thống đặc biệt tinh nhuệ, mưu trí, dũng cảm, đánh hiểm thắng lớn, hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.<span id="more-42659"></span></p>
<div id="attachment_161831" class="wp-caption aligncenter" style="width: 590px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/doi-quan-khong-ai-biet-1.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161831" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/doi-quan-khong-ai-biet-1.jpg" alt="" width="580" height="420" /></a><p class="wp-caption-text">Huấn luyện khắc phục vật cản.</p></div>
<div id="attachment_161830" class="wp-caption aligncenter" style="width: 590px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/doi-quan-khong-ai-biet-2.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161830" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/doi-quan-khong-ai-biet-2.jpg" alt="" width="580" height="464" /></a><p class="wp-caption-text">Huấn luyện võ thuật đánh đối kháng.</p></div>
<div id="attachment_161829" class="wp-caption aligncenter" style="width: 590px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/doi-quan-khong-ai-biet-3.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161829" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/doi-quan-khong-ai-biet-3.jpg" alt="" width="580" height="435" /></a><p class="wp-caption-text">Thực hành huấn luyện giải thoát con tin trong thành phố.</p></div>
<div id="attachment_161828" class="wp-caption aligncenter" style="width: 590px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/doi-quan-khong-ai-biet-4.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161828" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/doi-quan-khong-ai-biet-4.jpg" alt="" width="580" height="435" /></a><p class="wp-caption-text">Sau những giờ huấn luyện vất vả, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 12 tổ chức các hoạt động vui chơi, giải trí trên thao trường.</p></div>
<p>(QDND)</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://trandaiquang.net/xung-danh-tieu-doan-di-khong-dau-nau-khong-khoi-noi-khong-tieng.html/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Nga phát triển tên lửa nằm phục dưới đáy biển</title>
		<link>http://trandaiquang.net/nga-phat-trien-ten-lua-nam-phuc-duoi-day-bien.html</link>
		<comments>http://trandaiquang.net/nga-phat-trien-ten-lua-nam-phuc-duoi-day-bien.html#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 25 May 2013 08:43:34 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Ban Biên Tập</dc:creator>
				<category><![CDATA[An ninh - Quốc phòng]]></category>
		<category><![CDATA[Hải quân]]></category>
		<category><![CDATA[Tàu ngầm]]></category>
		<category><![CDATA[tên lửa]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://trandaiquang.net/nga-phat-trien-ten-lua-nam-phuc-duoi-day-bien.html</guid>
		<description><![CDATA[Tên lửa Skiff nằm phục dưới làn nước sẽ tiêu diệt tàu và mục tiêu trên mặt đất của đối phương vào thời điểm cần thiết. Izvestia dẫn nguồn tin Bộ Quốc phòng Nga rằng, trong tháng 5-6 trên Bạch [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>Tên lửa Skiff nằm phục dưới làn nước sẽ tiêu diệt tàu và mục tiêu trên mặt đất của đối phương vào thời điểm cần thiết.<span id="more-42641"></span></p>
<p>Izvestia dẫn nguồn tin Bộ Quốc phòng Nga rằng, trong tháng 5-6 trên Bạch Hải, nước này sẽ bắt đầu thử nghiệm tên lửa đạn đạo Skiff có thể giữ ở chế độ chờ dưới đáy biển. Vào thời điểm cần thiết, chúng sẽ được kích hoạt và tiêu diệt mục tiêu trên đất liền hoặc trên biển theo lệnh.</p>
<p>Cụ thể, tên lửa đạn đạo Skiff không cần phải phóng từ tàu ngầm mà có thể nằm bên ngoài tàu. Khi có lệnh bắn, tên lửa sẽ được kích hoạt và tấn công mục tiêu.</p>
<div id="attachment_161812" class="wp-caption aligncenter" style="width: 590px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/Skiffmissile_70.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161812" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/Skiffmissile_70.jpg" alt="Skiff sẽ nằm phục dưới nước và phóng lên khi cần." width="580" height="443" /></a><p class="wp-caption-text">Skiff sẽ nằm phục dưới nước và phóng lên khi cần.</p></div>
<p>Tên lửa do Viện Thiết kế Trung ương Rubin (thành phố St. Petersburg) và Trung tâm Tên lửa Quốc gia mang tên Viện sĩ Makeyev hợp tác phát triển theo đặt hàng từ Quân đội Nga.</p>
<p>Biên tập viên trang mạng Military Russia Dmitry Kornev nhận định, việc đặt những tên lửa như vậy ở một số khu vực đáy biển cho phép tiêu diệt các mục tiêu chiến lược của đối thủ mà không phải điều động tàu ngầm.</p>
<p>“Các tàu ngầm chiến lược có thể bị tổn thương vì các hệ thống chống ngầm của đối phương. Chỉ cần phát hiện được tàu ngầm thì dễ dàng làm hỏng việc phóng tên lửa vào thời điểm cần thiết. Tên lửa Skiff thực chất là không thể bị đối phương phát hiện”, ông Kornev nói.</p>
<p>Trong khi đó, Chuẩn Đô đốc về hưu Vladimir Zakharov nhận định, nếu đối phương phát hiện được tàu ngầm triển khai Skiff ở đáy biển thì cũng dễ dàng vô hiệu hoá các tên lửa.</p>
<p>“Nếu như tàu ngầm đối phương theo dõi tàu thì không thể nói đến việc bí mật triển khai tên lửa ở đáy biển. Còn nếu đặt tên lửa ở khu vực trống trải của đáy biển thì thiết bị thuỷ âm hiện đại dễ dàng phát hiện ra nó. Vì vậy hành động của thuyền trưởng tàu ngầm mang tên lửa triển khai dưới đáy biển quyết định nhiều vấn đề,” ông Zkharov nhận xét.</p>
<p>Các thử nghiệm tên lửa đầu tiên dự định được tiến hành vào cuối tháng 5-6 ở Bạch Hải, tàu ngầm Sarov đã được sửa lại chuyên để thử Skiff sẽ đặt tên lửa xuống đáy biển. Sarov là tàu được thiết kế dành riêng cho hoạt động thử nghiệm vũ khí hải quân mới.</p>
<p>Ở phần mũi tàu ngầm Sarov bố trí một ống phóng ngư lôi đường kính lớn gần 1m và các bể chứa đặc biệt dùng để bù đắp trọng lượng của quả tên lửa thả khỏi tàu ngầm và giúp tàu giữ sự ổn định.</p>
<p>“Trong các cuộc thử nghiệm sắp tới, chúng tôi sẽ kiểm tra không chỉ tên lửa, mà cả hệ thống chuyển nó từ tàu nổi sang tàu ngầm trên biển. Nếu mọi việc diễn ra tốt đẹp, thì sau các cuộc thử cấp nhà máy, tên lửa Skiff sẽ được chuyển sang thử nghiệm quốc gia. Những cuộc thử cho phép đưa tên lửa vào trang bị cho Hải quân Nga”, đại diện Bộ Quốc phòng Nga nói.</p>
<p><strong>(BKT)</strong></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://trandaiquang.net/nga-phat-trien-ten-lua-nam-phuc-duoi-day-bien.html/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt – Mỹ 1954-1975 (Kỳ cuối)</title>
		<link>http://trandaiquang.net/toan-canh-cuoc-doi-dau-lich-su-viet-my-1954-1975-ky-cuoi-2.html</link>
		<comments>http://trandaiquang.net/toan-canh-cuoc-doi-dau-lich-su-viet-my-1954-1975-ky-cuoi-2.html#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 25 May 2013 06:30:06 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Ban Biên Tập</dc:creator>
				<category><![CDATA[An ninh - Quốc phòng]]></category>
		<category><![CDATA[16 tấn vàng]]></category>
		<category><![CDATA[16 tan vang cua nguyen van thieu]]></category>
		<category><![CDATA[16 tan vang nguyen van thieu]]></category>
		<category><![CDATA[16 tan vang vnch]]></category>
		<category><![CDATA[Blogger Thiếu Long]]></category>
		<category><![CDATA[Chiến thắng 30/4]]></category>
		<category><![CDATA[Chiến tranh hóa học]]></category>
		<category><![CDATA[Chiến tranh khí tượng]]></category>
		<category><![CDATA[chiến tranh tâm lý]]></category>
		<category><![CDATA[Chiến tranh Việt Mỹ]]></category>
		<category><![CDATA[chien tranh viet nam]]></category>
		<category><![CDATA[Chiến tranh điện tử]]></category>
		<category><![CDATA[CIA buôn lậu ma túy]]></category>
		<category><![CDATA[Diệt Cộng]]></category>
		<category><![CDATA[Emily con ơi]]></category>
		<category><![CDATA[Free-fire-zone]]></category>
		<category><![CDATA[Giải phóng miền Nam]]></category>
		<category><![CDATA[Hàng rào điện tử McNamara]]></category>
		<category><![CDATA[Hanoi Jane]]></category>
		<category><![CDATA[Hiệp định Genève]]></category>
		<category><![CDATA[Hiệp định Geneve 1954]]></category>
		<category><![CDATA[hòn ngọc Viễn Đông]]></category>
		<category><![CDATA[Jane Fonda]]></category>
		<category><![CDATA[Martin Luther King]]></category>
		<category><![CDATA[Mật vụ Phượng Hoàng]]></category>
		<category><![CDATA[Ngộ nhận chiến tranh Việt Nam]]></category>
		<category><![CDATA[Ngô Đình Nhu]]></category>
		<category><![CDATA[Nguyễn Cao Kỳ]]></category>
		<category><![CDATA[Nguyễn Văn Thiệu]]></category>
		<category><![CDATA[Norman Morrison]]></category>
		<category><![CDATA[Phân biệt chủng tộc]]></category>
		<category><![CDATA[Phản chiến]]></category>
		<category><![CDATA[Phong trào phản chiến]]></category>
		<category><![CDATA[Sự kiện Mậu Thân 1968]]></category>
		<category><![CDATA[Sự thật chiến tranh Việt Nam]]></category>
		<category><![CDATA[Tết Mậu Thân]]></category>
		<category><![CDATA[Tết Mậu Thân 1968]]></category>
		<category><![CDATA[tham sat my lai]]></category>
		<category><![CDATA[thảm sát Sơn Mỹ]]></category>
		<category><![CDATA[Tố Cộng]]></category>
		<category><![CDATA[Trần Lệ Xuân]]></category>
		<category><![CDATA[Viện trợ chiến tranh]]></category>
		<category><![CDATA[Việt Nam cộng hòa]]></category>
		<category><![CDATA[Vo Nguyen Giap]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://trandaiquang.net/toan-canh-cuoc-doi-dau-lich-su-viet-my-1954-1975-ky-cuoi-2.html</guid>
		<description><![CDATA[Nguyên nhân chiến thắng Từ lúc Mỹ thất bại trước Việt Nam, hầu hết giới nghiên cứu, các nhà sử học, nhà quân sự, nhà chính trị học khắp Đông &#8211; Tây khi tìm hiểu về lịch sử Hoa Kỳ, [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<h3 style="text-align: justify"><strong>Nguyên nhân chiến thắng</strong></h3>
<p style="text-align: justify">Từ lúc Mỹ thất bại trước Việt Nam, hầu hết giới nghiên cứu, các nhà sử học, nhà quân sự, nhà chính trị học khắp Đông &#8211; Tây khi tìm hiểu về lịch sử Hoa Kỳ, về nước Mỹ, về quân đội Hoa Kỳ, và về cuộc chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam đều đặt ra một nghi vấn, một câu hỏi: Tại sao Mỹ thua Việt Nam? Tại sao một xứ sở nhỏ bé và được cho là<em> &#8220;nhược tiểu&#8221;</em> như Việt Nam có thể thắng được đại cường quốc Hoa Kỳ?</p>
<blockquote><p><strong><span style="text-decoration: underline">Xem lại các kỳ trước</span>:</strong></p>
<ul>
<li><strong><a href="/toan-canh-cuoc-doi-dau-lich-su-viet-my-1954-1975-ky-1.html" rel="nofollow" title="Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt – Mỹ 1954-1975 (Kỳ 1)"  target="_blank">Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt &#8211; Mỹ 1954-1975 (Kỳ 1)</a></strong></li>
<li><strong><a href="/toan-canh-cuoc-doi-dau-lich-su-viet-my-1954-1975-ky-2.html" rel="nofollow" title="Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt – Mỹ 1954-1975 (Kỳ 2)"  target="_blank">Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt &#8211; Mỹ 1954-1975 (Kỳ 2)</a></strong></li>
<li><strong><a href="/toan-canh-cuoc-doi-dau-lich-su-viet-my-1954-1975-ky-3.html" rel="nofollow" title="Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt – Mỹ 1954-1975 (Kỳ 3)"  target="_blank">Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt &#8211; Mỹ 1954-1975 (Kỳ 3)</a></strong></li>
<li><strong><a href="/toan-canh-cuoc-doi-dau-lich-su-viet-my-1954-1975-ky-4.html" rel="nofollow" title="Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt - Mỹ 1954-1975 (Kỳ 4)"  target="_blank">Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt &#8211; Mỹ 1954-1975 (Kỳ 4)</a></strong></li>
<li><strong><a href="/toan-canh-cuoc-doi-dau-lich-su-viet-my-1954-1975-ky-5.html" rel="nofollow" title="Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt - Mỹ 1954-1975 (Kỳ 5)"  target="_blank">Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt &#8211; Mỹ 1954-1975 (Kỳ 5)</a></strong></li>
<li><strong><a href="/toan-canh-cuoc-doi-dau-lich-su-viet-my-1954-1975-ky-6.html" rel="nofollow" title="Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt - Mỹ 1954-1975 (Kỳ 6)"  target="_blank">Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt &#8211; Mỹ 1954-1975 (Kỳ 6)</a></strong></li>
</ul>
</blockquote>
<p style="text-align: justify">Với 58 vạn quân tinh nhuệ, kỷ luật, có kinh nghiệm chiến trường khắp năm châu, với các tướng lĩnh, sĩ quan dày dặn kinh nghiệm khắp thế giới qua Thế chiến II và chiến trường Triều Tiên, từng chiến thắng hầu hết các thế lực quân sự hùng mạnh, thiện chiến từ Á sang Âu. Một quốc gia trong lịch sử gần 200 năm chưa bao giờ nếm mùi thua cuộc. Một lực lượng không quân vô địch, trăm trận trăm thắng, có sức mạnh áp đảo, với máy bay chiến lược B-52 tối tân nhất thế giới.</p>
<p style="text-align: justify">Họ dùng gần 60 vạn quân trong nội địa Việt Nam, và cả nhiều căn cứ quân sự bên ngoài và chung quanh Việt Nam, tổng cộng gần 1 triệu thực binh Mỹ, rồi cả quân ngụy và quân chư hầu. Với một trình độ phát triển cao hơn nhiều bậc. Với một trình độ khoa học kỹ thuật vượt trội, áp đảo, với một sức mạnh quân sự, ngân sách quốc phòng, khả năng chi tiêu vũ khí, công nghệ chiến tranh vượt trội. Với những vũ khí hiện đại, tối tân, kể cả vũ khí sinh học hủy diệt thiên nhiên, môi trường, mầm sống, sinh vật, cây cỏ, con người, hủy rụi những rừng già thiên nhiên tồn tại hàng ngàn năm để Việt Cộng không thể ẩn thân. Để lại di hại, di chứng tàn khốc đến ngày nay và có thể ngàn năm sau. Với một nền văn minh công nghệ và trình độ sản xuất vượt bậc và bỏ xa Việt Nam.</p>
<p style="text-align: justify">Họ huy động một lực lượng không quân đánh đâu thắng đó, chưa từng chiến bại, với đủ mọi loại bom, từ bom chùm, bom bi đến bom Napalm rải thảm lên mảnh đất nhỏ bé, với hơn 8 triệu tấn bom, gấp gần 3 lần tổng số bom mà các phe rải xuống trái đất trong Thế chiến II nói riêng và trong lịch sử chiến tranh của nhân loại nói chung.</p>
<p style="text-align: justify">Trong 10 năm (1961-1971), quân đội Mỹ đã rải khoảng 75 triệu lít chất độc hóa học, trong đó phần nhiều là chất độc da cam, xuống hơn 10% diện tích đất và gần nửa diện tích rừng ở Việt Nam. Tất cả số bom và chất độc hóa học đó đều dồn lại dội xuống một mảnh đất nhỏ bé, nghèo nàn, lạc hậu, một quốc gia có tổng diện tích thua nhiều tiểu bang của Mỹ.</p>
<p style="text-align: justify">Nhà nghiên cứu khoa học tự nhiên và hoạt động môi trường Sarah DeWeerdt, cộng tác viên thường trực của Worldwatch Institute (Viện quan sát thế giới về môi trường) ở Washington (Mỹ), trong bài viết<em> &#8220;Modern warfare equals environmental damage&#8221;</em> (Các loại hình chiến tranh mới chính là sự hủy hoại môi sinh), đăng trên báo USA Today số tháng 1 năm 2008, đã cho biết sự tàn phá môi trường rộng lớn của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam là một trong những nguyên nhân chính mà tiếng Anh có thêm một thuật ngữ mới: &#8220;Ecocide&#8221; (diệt sinh thái, tương tự thuật ngữ &#8220;Genocide&#8221; là diệt chủng con người).</p>
<p style="text-align: justify">Họ bỏ ra hàng tỷ USD lập ra những quân trường rộng lớn, hoành tráng, quy mô, mô phỏng địa lý, khí hậu, thời tiết, phong thổ, rừng cây Việt Nam, nhằm đối phó với chiến tranh du kích của Việt Nam. Xây dựng những cơ quan nghiên cứu, những nhà máy sản xuất những vũ khí đặc thù phù hợp với chiến trường Việt Nam để chống lại con người Việt Nam. Họ làm đủ mọi cách có thể nghĩ ra, họ không bỏ qua một sơ hở nào, một yếu tố nào, một chi tiết nhỏ nào, họ tận dụng mọi lĩnh vực từ chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao, văn hóa, tâm lý chiến v.v. đặc biệt là tận dụng ưu thế vượt trội về công nghệ và công nghiệp quân sự. Họ tận dụng mọi lợi thế về khoa học phục vụ chiến tranh. Với những lãnh đạo, tướng lĩnh, chuyên viên tài năng, chuyên nghiệp, làm việc một cách bài bản, khoa học, dưới tay là một đội quân nhà nghề không ai địch nổi.</p>
<p style="text-align: justify">Họ dùng <em>chiến tranh điện tử</em> với Hàng rào điện tử McNamara, <em>&#8220;cây nhiệt đới&#8221;.</em> Dùng <em>chiến tranh hóa học</em> với những chất độc sinh học, chất độc diệt rừng, hủy diệt dần mòn con người, môi trường, thiên nhiên, nhằm đè bẹp sức kháng cự của người Việt Nam, và dùng chất độc khai quang hủy diệt các rừng già, cây cỏ, gây khó khăn cho du kích Việt Nam ẩn thân, mai phục.</p>
<p style="text-align: justify">Vẫn chưa hài lòng với 2 loại hình chiến tranh điện tử và hóa học, Hoa Kỳ còn tiến hành thêm một loại hình chiến tranh công nghệ cao là<em> chiến tranh khí tượng</em>. Đây là một loại hình chiến tranh mà họ đã sử dụng những công nghệ tiên tiến, tối tân nhất cùng những thiết bị hiện đại nhất với mục đích làm đảo lộn, hủy diệt sinh thái, thiên nhiên, gây lụt lội, tắc ách ở trên những tuyến của con đường huyết mạch Trường Sơn chi viện từ Bắc vào Nam&#8230;. Nhưng rồi họ vẫn thua Việt Nam.</p>
<p style="text-align: justify">Học viện quân sự West Point nổi tiếng của Mỹ những năm sau mốc thời gian 1975 đã mở nhiều hội thảo khoa học, nghiên cứu, phân tích, tranh luận từ các hiệu trưởng, cựu hiệu trưởng, giáo sư, giảng viên và cựu giảng viên từng phục vụ trong trường, và những người thỉnh giảng được mời từ bên ngoài, thậm chí từ ngoài nước Mỹ. Họ trình bày các nghiên cứu cá nhân, tham gia phát biểu, hội luận, xem xét, thẩm định, đánh giá từng chiến dịch một, từng thời điểm một, và từng góc độ, từng khía cạnh, để giải đáp câu hỏi hóc búa: Tại sao chúng ta thua Việt Nam? Sau đó họ đã phải chỉnh sửa, cập nhật, thậm chí viết mới lại hoàn toàn, in lại nhiều giáo trình quân sự của trường.</p>
<p style="text-align: justify">Theo trung tướng Lưu Á Châu, Chính ủy Không quân Quân khu Thành Đô, Trung Quốc, khi bình luận chuyên sâu về chiến tranh Iraq trên tạp chí Khoa Học Quân Sự Không Quân của Trung Quốc năm 2010, thì cách thắng một cuộc chiến tranh trong lịch sử quân sự Hoa Kỳ thường là:</p>
<ul>
<li>Áp đảo ngay từ đầu về chiến tranh thông tin, chiến tranh tâm lý, chiến tranh chính trị, tạo ra một sức ép vô hình, một áp lực khổng lồ vô ảnh.</li>
<li>Dùng lực lượng không quân và hải quân chất lượng nhất thế giới về năng lực tác chiến và vũ khí tối tân để chiếm lĩnh vùng biển và vùng trời, gây thêm sức ép, tạo thêm áp lực nghẹt thở vây hãm địch.</li>
<li>Dùng chiến tranh công nghệ cao và các lực lượng đặc nhiệm, biệt kích có tính lưu động cao, tác chiến nhanh chóng nhằm tê liệt hóa về quân sự và nhanh chóng chiếm lĩnh đầu não, thủ đô của đối phương. Đồng thời áp dụng chiến tranh tâm lý, trong đó có những thủ đoạn khủng bố tinh thần gây khủng hoảng tâm lý để tê liệt hóa về chính trị, xã hội.</li>
</ul>
<p style="text-align: justify">Những chiến lược, chiến thuật trên của Mỹ thì ngoài Việt Nam ra cho đến nay chưa gặp đối thủ. Sở dĩ Mỹ thất bại trước Việt Nam, dựa theo các tiêu chí trên thì có thể xét đến các vấn đề sau đây:</p>
<ul>
<li>Việt Nam cũng giỏi về chính trị, tình báo, tuyên truyền, và có ưu thế về yếu tố &#8220;nhân hòa&#8221;. Mỹ không thể áp đảo được.</li>
<li>Đúng là không quân và hải quân Mỹ đã hoành hành trên khắp vùng trời và vùng biển của Việt Nam và tận dụng ưu thế hỏa lực của họ. Nhưng ý chí của quân dân Việt Nam đã khiến hải quân Mỹ không thể gây sức ép tinh thần. Không quân vô địch của Mỹ thì gặp phải khắc tinh là hệ thống phòng không tinh nhuệ hàng đầu thế giới của Việt Nam mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã tiên liệu và chú trọng xây dựng ngay từ đầu. Không quân Việt Nam không chọi lại Mỹ nhưng các đơn vị phòng không của Việt Nam thì có thể hóa giải không quân của Mỹ.</li>
<li>Các biệt đội cơ động, lực lượng đặc biệt, biệt kích thiện chiến tinh nhuệ của họ đều bó tay trước địa hình hiểm trở của Việt Nam, vốn là một ưu thế lớn cho lực lượng du kích bản địa, và thực tế là du kích miền Nam còn cơ động và nhanh nhẹn hơn biệt kích Mỹ nhiều, nhờ trang bị nhẹ và thông thạo đường đi nước bước. Mỹ không có cách bình định được miền Nam, không tiêu diệt được quân Giải phóng, không chiếm được những vùng giải phóng, vì vậy họ không thể tập trung lực lượng lớn để mở một cuộc tổng tấn công ở miền Nam, và càng không thể &#8220;mơ giữa ban ngày&#8221; về chuyện Bắc tiến, hay hoang đường hơn: Tiến vào Hà Nội chiếm lấy thủ đô của Việt Nam ở tận ngoài Bắc. Họ nhiều lần đem các loại máy bay oanh tạc tối tân nhất ra tàn phá Hà Nội, muốn gây tê liệt hóa đầu não của Việt Nam, nhưng các phi vụ đó đều bị đánh bại phải rút lui về sau những tổn thất nặng nề. Và dân tộc Việt không như những dân tộc khác, Mỹ càng gây tội ác để khủng bố tinh thần thì dân Việt càng bất khuất và căm thù giặc hơn, chẳng những không sợ mà càng nuôi giấu lực lượng kháng chiến, hối thúc con em, con cháu ra bưng biền theo Mặt Trận đánh giặc.</li>
</ul>
<p style="text-align: justify">Việt Nam không chỉ đánh bằng quân đội như những đối thủ khác của Mỹ. Việt Nam tiến hành chiến lược chiến tranh nhân dân và kết hợp nhuần nhuyễn khôn khéo với chiến thuật du kích. Đánh trên cả 3 mặt trận: Chính trị, quân sự, ngoại giao. Với phương châm tấn công &#8220;2 chân, 3 mũi, 3 vùng&#8221;. Hai chân: Chính trị và quân sự. Ba mũi giáp công: Chính trị, quân sự, binh vận. Ba vùng chiến lược: Nông thôn, thành thị, miền núi.</p>
<h4 style="text-align: justify"><strong>Nguyên nhân sâu xa</strong></h4>
<p style="text-align: justify">Quân đội Mỹ thắng khắp thế giới mà chỉ thua trên đất Việt chính là vì người Việt có một nền văn hóa căn bản vững chắc lâu đời, đặc biệt là văn hóa giữ nước. Văn hóa, tư tưởng này được hun đút từ lòng yêu nước truyền thống của dân Việt truyền lại từ ngàn xưa.</p>
<p style="text-align: justify">Quân Mỹ không hẳn thua vì không thiện chiến bằng, không dũng cảm bằng, không trung thành bằng. Cũng không thua vì du kích Việt Nam, hay thua vì các khu rừng nhiệt đới ở Đông Dương, hay vì ruồi muỗi côn trùng, vì khí hậu nhiệt đới khắc nghiệt dễ gây bệnh tật cho người ngoài.</p>
<p style="text-align: justify">Mỹ thua Việt Nam vì dân tộc Việt Nam có một căn bản gốc rễ, cội nguồn văn hóa vững bền và điều này đã tạo ra một ý chí sắt thép cho từng người lính và người dân chống quân xâm lược. Đây là những ý chí sắt đá mà không một chương trình tâm lý chiến nào có thể hạ gục nổi.</p>
<p style="text-align: justify">Một số học giả, nhà nghiên cứu lâu nay tin rằng người Việt thắng Mỹ là vì khí hậu, phong thổ, vì du kích tài ba, vì các chiến sĩ biệt động liều lĩnh không sợ chết, vì tướng giỏi, vì lãnh đạo tài đức, vì thiên tài lãnh đạo chính trị của chủ tịch Hồ Chí Minh, vì thiên tài chỉ đạo quân sự của đại tướng Võ Nguyên Giáp&#8230;. đều không đúng hoàn toàn.</p>
<p style="text-align: justify">Việt Nam thắng Mỹ vì biết vận dụng lòng yêu nước của đại khối dân tộc, sử dụng vũ khí yêu nước đó chống lại quân xâm lược Mỹ. Vũ khí yêu nước đó có được chính là từ văn hóa giữ nước giữ làng sâu xa từ ngàn xưa, sau ngàn năm dựng nước và giữ nước, từ một chủ đạo dân tộc sâu sắc từ cội nguồn gốc rễ ăn sâu vào tim óc từng người con đất Việt. Đó là bản sắc dân tộc Việt Nam, một nền văn hóa chủ đạo cơ bản gốc rễ vốn đã mạnh mẽ, vững chắc từ ngàn xưa.</p>
<p style="text-align: justify">Bác Hồ đã đúc kết văn hóa đó thành câu danh ngôn:<em> &#8220;Các vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước!&#8221;</em></p>
<p style="text-align: justify">Trong Đại Hội Đảng lần thứ 2, chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói kỹ hơn: <em>&#8220;Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước&#8221;.</em></p>
<div id="attachment_161739" class="wp-caption aligncenter" style="width: 590px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/banh-nuoi-quan-01.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161739" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/banh-nuoi-quan-01.jpg" alt="Những chiếc bánh nuôi quân" width="580" height="385" /></a><p class="wp-caption-text">Những chiếc bánh nuôi quân</p></div>
<div id="attachment_161740" class="wp-caption aligncenter" style="width: 590px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/banh-nuoi-quan-02.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161740" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/banh-nuoi-quan-02.jpg" alt="Những chiếc bánh nuôi quân" width="580" height="393" /></a><p class="wp-caption-text">Những chiếc bánh nuôi quân</p></div>
<h3 style="text-align: justify"><strong>Ý nghĩa chiến thắng</strong></h3>
<p style="text-align: justify">Từ một đất nước bị các quân đội thực dân xâm chiếm, từ một dân tộc bị nô lệ, Việt Nam đã giành lại hoàn toàn nền độc lập dân tộc một cách trọn vẹn sau gần bao nhiêu thế kỷ chiến tranh, mất nước, chia cắt, bị mất gần nửa lãnh thổ, và trở thành một quốc gia hoàn toàn độc lập, thống nhất, có đầy đủ chủ quyền được quốc tế thừa nhận, trong một vận hội hòa bình yên ổn và phát triển lâu dài.</p>
<p style="text-align: justify">Với mùa xuân toàn thắng năm 1975, đất nước Việt Nam về cơ bản đã sạch bóng quân xâm lược, dân tộc Việt Nam hoàn toàn thoát khỏi ách đô hộ thực dân cũ và mới, lành lại nỗi đau chia cắt, giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam.</p>
<p style="text-align: justify">Sự kiện này vừa đánh dấu một mốc son sáng chói trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của người Việt Nam, vừa có ý nghĩa quốc tế quan trọng. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam đã góp phần chặn đứng làn sóng chiến tranh xâm lược và vào công cuộc giữ gìn hòa bình thế giới.</p>
<p style="text-align: justify">Mỹ đã xâm lược Việt Nam, gây xáo trộn hòa bình thế giới. Với thất bại ở Việt Nam, chủ nghĩa đế quốc ở Mỹ phải lùi một bước lớn về chiến lược, phải thay đổi phương thức bành trướng quốc tế và bá chủ thế giới để tránh một Việt Nam thứ hai. Do thất bại của Mỹ ở Việt Nam, hòa bình chung trên thế giới được bảo đảm. Sau cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam, thế giới này không còn chứng kiến những cuộc chiến tranh lớn nữa, và các cuộc chiến tranh nhỏ thì không còn xảy ra thường xuyên như trước.</p>
<p style="text-align: justify">Đối với thời đại, dân tộc Việt Nam là dân tộc thuộc địa đầu tiên đã đánh bại ách đô hộ và cuộc chiến tranh tái chiếm thuộc địa của Pháp, góp phần quan trọng cùng với phong trào cách mạng vô sản và giải phóng dân tộc trên thế giới gây thoái trào cho chủ nghĩa thực dân cũ, đánh sập hệ thống thuộc địa kiểu cũ, đặc biệt với biểu tượng Điện Biên Phủ lừng danh.</p>
<p style="text-align: justify">Với chiến công thắng Mỹ, Việt Nam đã hoàn toàn kết liễu mọi hình thức xâm lược của chủ nghĩa thực dân cũ (trực tiếp kéo quân vào xâm lược, chỉ huy, quản lý), mở đầu việc đánh bại chủ nghĩa thực dân mới. Với chiến tích này, nhân dân Việt Nam cũng góp phần làm chuyển biến tương quan lực lượng giữa phe diều hâu hiếu chiến và phía yêu chuộng hòa bình ở Hoa Kỳ nói riêng và trên thế giới nói chung.</p>
<p style="text-align: justify">Sáng 30/4/1975, những người lính Mỹ cuối cùng phải rời khỏi Việt Nam. Lần đầu tiên sau hơn 100 năm, Việt Nam có không còn bóng dáng quân giặc xâm lược trên lãnh thổ mình. Hơn 3 tiếng sau là sự sụp đổ đương nhiên của ngụy quyền. Thắng lợi này là kết quả của đại khối dân tộc trong cuộc đấu trí, đấu lực quyết liệt và lâu dài giữa dân tộc Việt Nam và đế quốc Mỹ. Quân đội Mỹ đã ghi thêm tên mình vào danh sách những bại binh bị Việt Nam đánh bại trong lịch sử.</p>
<p style="text-align: justify">Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nhận định: <em>Điện Biên Phủ và Mùa xuân toàn thắng 1975 là những điểm hẹn lịch sử dành cho những cuộc chiến tranh xâm lược!</em></p>
<h4 style="text-align: justify"><strong>1. Giải phóng hoàn toàn miền Nam</strong></h4>
<p style="text-align: justify">Một thuộc địa kiểu mới, một xã hội thực dân mới thì đương nhiên cần phải giải phóng khỏi tay giặc xâm lược. Nhưng bản thân xã hội trong vùng tạm chiếm ở miền Nam Việt Nam còn có những căn bệnh trầm kha, đưa đến nhu cầu cần phải được giải phóng, không thể không giải phóng.</p>
<p style="text-align: justify">Xã hội trong những vùng tạm chiếm, về văn hóa thì méo mó, thác loạn, Tây hóa, Mỹ hóa. Đời sống tinh thần lệch lạc, đạo đức băng hoại, những phụ nữ ăn mặc hở hang đứng đường chào mời lính Mỹ là những hình ảnh thường thấy trên đường phố Sài Gòn, nhất là về đêm. Thường xuyên có những cô gái trẻ nhảy sông tự tử vì tình và vì nhiều nguyên nhân khác nhau. Báo chí tư nhân rẻ tiền trần trụi và công khai xúc phạm phẩm giá những nhân vật công chúng để câu khách. Truyện khiêu dâm được xuất bản bán công khai đầy ở các nhà sách.</p>
<p style="text-align: justify">Văn kiện của Bộ Ngoại giao Việt Nam được giải mật &#8220;Sự thật về quan hệ Việt Nam &#8211; Trung Quốc 30 năm qua&#8221;, do nhà xuất bản Sự Thật phát hành năm 1979, đã ước tính: Ngoài các nạn nhân bị thương vong, dị tật, di chứng từ cuộc chiến, nạn nhân chất độc hóa học, người Mỹ còn để lại một nền kinh tế tê liệt, trên 3 triệu người thất nghiệp, gần 1 triệu trẻ mồ côi, khoảng 600 ngàn gái mại dâm, trên 1 triệu bệnh nhân nghiện ma túy.</p>
<p style="text-align: justify">Đó là hậu quả của một thời kỳ ngoại thuộc lâu dài và buôn lậu ma túy gần 20 năm từ Diệm &#8211; Nhu và Trần Lệ Xuân cho đến Thiệu &#8211; Kỳ và Nguyễn Thị Lý, cũng như gia đình của họ. Ma túy được bày bán công khai ngoài chợ giữa ban ngày, nhất là ở Chợ Lớn.</p>
<p style="text-align: justify">Tiến sĩ ngành sử học Đông Nam Á Alfred W. McCoy là một sử gia có tên tuổi, ông viết cùng tác giả Cathleen B. Read trong sách The Politics of Heroin in Southeast Asia (Nền chính trị ma túy ở Đông Nam Á), do Harper &amp; Row xuất bản năm 1972, về tình trạng buôn lậu ma túy và sự giao dịch giữa bọn tội phạm hình sự, bọn mafia quốc tế ở Đông Nam Á, đã tóm lược như sau:</p>
<p style="text-align: justify">Ngô Đình Nhu đã quyết định tái lập việc buôn bán ma túy để lấy tiền. Dù đa phần các tiệm hút ở Sài Gòn đã đóng cửa 3 năm rồi, hàng ngàn con nghiện người Trung Hoa và người Việt Nam vẫn còn thèm muốn được hút trở lại. Ông Nhu cho người tiếp xúc với những người cầm đầu của các tổ chức có thế lực của người Hoa ở Chợ Lớn để mở lại các tiệm hút và thiết lập một hệ thống phân phối ma túy nhập cảng lậu cho họ sử dụng. Chỉ trong vòng có mấy tháng, hàng trăm tiệm hút ma túy này đã hoạt động trở lại, và 5 năm sau, một phóng viên của tuần báo Time đã ước lượng ở Chợ Lớn có đến khoảng 2.500 cơ sở hút ma túy hoạt động công khai.</p>
<p style="text-align: justify">Để có thể cung ứng thuốc phiện đầy đủ cho khách hàng tiêu thụ, Ngô Đình Nhu thiết lập hai hệ thống đường bay khứ hồi từ vùng sản xuất thuốc phiện sống ở Lào về miền Nam Việt Nam. Hệ thống đường bay chính là thuê các phi cơ nhỏ của Hàng không Lào, giao cho trùm tội phạm quốc tế Bonaventure &#8220;Rock&#8221; Francisci phụ trách. Francisci trực tiếp nói chuyện và thương lượng với Ngô Đình Nhu. Theo trung tá Lucien Conein, một cựu viên chức cao cấp CIA ở Sài Gòn, mối quan hệ mờ ám giữa Ngô Đình Nhu và Francisci về dịch vụ bất hợp pháp này khởi đầu vào năm 1958. Sau khi Nhu bảo đảm an toàn cho việc đem thuốc phiện về Sài Gòn, Francisci dùng đoàn máy bay Beechtcrafts hai động cơ vận chuyển món hàng này về miền Nam Việt Nam hàng ngày.</p>
<p style="text-align: justify">Ngoài ra, Ngô Đình Nhu còn phái nhân viên tình báo dưới quyền bác sĩ Trần Kim Tuyến đến Lào với nhiệm vụ là vận chuyển thuốc phiện sống về Sài Gòn bằng phi cơ quân sự của không quân Sài Gòn. Tuy nhiên, nhiều người trong nội bộ cho rằng bác sĩ Trần Kim Tuyến, người đứng đầu tổ chức mật vụ có danh xưng trá hình &#8220;Sở Nghiên cứu Chính trị &#8211; Xã hội&#8221;, do CIA tài trợ, mới thật sự là nhân vật chủ chốt của kế hoạch làm ăn bất chính này.</p>
<p style="text-align: justify">CIA cũng là một ông &#8220;trùm ma túy&#8221;. CIA từng giao dịch ma túy với Trung Hoa Quốc Dân Đảng ở Trung Quốc, và giúp máy bay cho Tưởng Giới Thạch vận chuyển và giao dịch thuốc phiện ở Myanma và Thái Lan. Trong chiến tranh Afghanistan (1979-1989), CIA đã giúp lãnh tụ Hồi giáo Gulbuddin Hekmatyar, một người chống Liên Xô, vận chuyển và giao dịch ma túy.</p>
<p style="text-align: justify">Ngày 13/4/1989, bản báo cáo của Hội đồng Kerry, do Thượng nghị sĩ John Kerry (từng là ứng cử viên Tổng thống, hiện là Bộ trưởng ngoại giao), đã kết luận rằng CIA đã dùng nguồn thu nhập từ ma túy để chi tiêu cho lực lượng đặc nhiệm Contra.</p>
<p style="text-align: justify">Nhà ngoại giao người Canada, Gs. Peter Dale Scott cho biết Guadalajara Cartel là đường dây buôn lậu ma túy mạnh nhất đầu thập niên 1980, chúng hoạt động thoải mái phần lớn nhờ sự bảo kê của cơ quan DFS, là một cơ quan ngoại vi của CIA do Miguel Nazar Haro phụ trách.</p>
<p style="text-align: justify">Vicente Zambada Niebla, con trai của Ismael Zambada García, là một trong những tay trùm ma túy lớn nhất ở Mexico, sau khi bị bắt đã khai với các luật sư của hắn rằng hắn và các cộng sự được các nhân viên người Mỹ cung cấp &#8220;giấy phép&#8221; đặc biệt để vận chuyển ma túy qua lại biên giới hai nước, để đổi lấy các tin tức tình báo nội bộ về cuộc chiến ma túy quy mô lớn đang diễn ra ở Mexico.</p>
<p style="text-align: justify">Ngoài ra CIA còn nhúng tay vào việc giúp đỡ giao dịch hoặc trực tiếp giao dịch ma túy ở Panama sau khi gần 3 vạn quân Mỹ tấn công nước này vào năm 1989. CIA còn từng có một thời gian dài dùng ma túy chiêu dụ lực lượng Vệ binh Quốc gia Venezuela để đổi lấy các thông tin tình báo. Việc này đến năm 1996 mới được đưa ra công luận.</p>
<div id="attachment_161742" class="wp-caption aligncenter" style="width: 590px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/bar-saigon.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161742" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/bar-saigon.jpg" alt="Một quán bar ở Sài Gòn dưới thời Mỹ (1969). " width="580" height="386" /></a><p class="wp-caption-text">Một quán bar ở Sài Gòn dưới thời Mỹ (1969).</p></div>
<p style="text-align: justify"><em>Năm 1969 là thời điểm quân Mỹ tràn ngập miền Nam Việt Nam đông đảo nhất, lên đến hơn 55 vạn quân. Trong năm này binh lính Mỹ ở Sài Gòn ăn xài khoảng 30 triệu USD mỗi tháng (tương đương 200 triệu USD ngày nay). Ngoài các viện trợ kinh tế dồi dào thì khoản tiển khổng lồ này cũng góp phần làm &#8220;thay đổi bộ mặt&#8221; của &#8220;Hòn ngọc Viễn Đông&#8221;, tạo ra vỏ bọc hào nhoáng phồn vinh giả tạo.</em></p>
<p style="text-align: justify">Hai tác giả Bradley S. O’ Leary và Edward Lee trong sách The Deaths of the Cold War Kings: The Assassinations of Diem and JFK (Cái chết của những ông vua Chiến tranh lạnh: Vụ ám sát Diệm và John F. Kennedy), do Cemetery Dance xuất bản năm 1999, đã cho biết như sau:</p>
<p style="text-align: justify">Năm 1958, khi Diệm-Nhu tái lập hệ thống lưu thông thuốc phiện về Sài Gòn, Bonaventure Francisci khó có thể hoan hỉ hơn vì nó đã làm sống lại nghề cũ của ông ta là vận chuyển thuốc phiện từ gốc sản xuất ở Lào đi thẳng về miền Nam Việt Nam bằng một phi đội máy may riêng.</p>
<p style="text-align: justify">Sau đó, Francisci dự tính sẽ kiếm được nhiều tiền hơn từ việc bán thuốc phiện trực tiếp cho hàng trăm ổ hút và hàng chục ngàn bệnh nhân nghiện ma túy ở Sài Gòn. Trong khi việc sản xuất thuốc phiện ở các nơi khác trên thế giới, đặc biệt là Mexico và Thổ Nhĩ Kỳ, ngày càng phức tạp và khó khăn. Tình hình này chỉ làm lợi thêm cho Guerini bởi vì nó gia tăng thị phần ma túy của ông ta.</p>
<p style="text-align: justify">Sau đó Francisci và Nhu đã thực hiện một hợp đồng phân phối cơ bản. Francisci sẽ vận chuyển thuốc phiện đến Sài Gòn cho các ổ hút của Nhu nhưng hắn còn chở nhiều thuốc phiện cho các điểm thả dù ở Sài Gòn. Tại đây, thuốc phiện sẽ được máy bay vận tải chở sang các xưởng chế biến ở Marseille. Tại Marseille, thuốc phiện sẽ được chế biến thành bạch phiến có chất lượng cao để bán cho các trùm ma túy ở Mỹ như Santos Trafficante, Carlos Marcello, và Sam Giancana.</p>
<p style="text-align: justify">Về căn bản, các tập đoàn buôn lậu ma túy, mafia Mỹ, và ngụy quyền Ngô Đình Diệm đã biến thành các đối tác làm ăn của nhau trong mạng lưới ma túy toàn cầu. Tiền tỷ chảy vào túi các bên liên quan.</p>
<p style="text-align: justify">Trong bài phê bình <em>&#8220;Một Bí Ẩn Cần Tiết Lộ Trong Chuyện Bức Tử Miền Nam Năm 1975&#8243;</em> của tác giả Trần Viết Đại Hưng, một cựu sĩ quan ngụy, bạn thân của tướng ngụy Nguyễn Chánh Thi, đã phê phán gay gắt:</p>
<p style="text-align: justify"><em>&#8220;Trong thời Chiến tranh Việt Nam, báo chí Mỹ phanh phui là Thiệu cùng với đàn em là Trung tướng Đặng văn Quang, đã buôn bán Bạch phiến làm giàu. Thứ trùm ma túy như Thiệu thì làm gì mà có chuyện yêu nước thương dân. Gặp thời loạn lạc, làm cai thầu chống Cộng, Thiệu chỉ có một việc duy nhất là vơ vét cho đầy túi tham mà thôi. Đến khi quốc gia hưng vong thì lòi ngay ra bản chất ti tiện hèn nhát, đúng là có ‘cháy nhà mới lòi mặt chuột’ Nguyễn văn Thiệu.</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Phó tổng thống Nguyễn cao Kỳ cũng chẳng có gì khá hơn, trong cuốn hồi ký &#8221; Việt Nam máu lửa quê hương tôi&#8221;, cựu thiếu tướng Đỗ Mậu đã chỉ ra rằng ông Kỳ và bà chị ruột là Nguyễn thị Lý đã buôn lậu thuốc phiện từ Lào về bán. Đúng là hai gương mặt cai thầu chống Cộng do Mỹ dựng lên là Nguyễn văn Thiệu và Nguyễn cao Kỳ chẵng có tay nào sáng sủa, toàn là thứ buôn lậu ma túy. Phải đợi tới những ngày cuối tháng 4/1975 mới thấy rõ tư cách hèn kém của hai tay này. Bỏ quân leo phi cơ mà chạy không một chút liêm sỉ và danh dự của người lãnh đạo.&#8221;</em></p>
<p style="text-align: justify">Ngoài sự tê liệt vì tệ nạn buôn lậu ma túy, xã hội trong những vùng tạm chiếm còn bị tê liệt bởi lối sống sa đọa và đồi trụy. Khoảng 6 triệu người Mỹ và gần 60 vạn quân viễn chinh Mỹ ở trong vùng tạm chiếm, đã tạo ra các nhu cầu và văn hóa &#8220;tiêu dùng&#8221; mới. Để &#8220;giúp vui&#8221; cho quân Mỹ, Mỹ-Thiệu cho mở cửa hàng loạt phòng tắm hơi, hộp đêm, nhất là ổ mại dâm, nhan nhản khắp Sài Gòn, đặc biệt là xung quanh các cư xá của người Mỹ. Thị trường mại dâm ở Sài Gòn trước năm 1975 được người dân quen miệng gọi là &#8220;chợ heo&#8221;, được Mỹ-Thiệu công khai hóa và hợp pháp hóa. Năm 1966, sau khi từ Sài Gòn về Mỹ, thượng nghị sĩ William Fulbright nhận xét:<em> &#8220;Mỹ đã biến Sài Gòn thành một ổ mại dâm&#8221;.</em></p>
<p style="text-align: justify">Lối sống đồi trụy, thác loạn, không chỉ là hậu quả của sự có mặt của hàng chục vạn lính viễn chinh nước ngoài trong túi nhiều đô la Mỹ, mà theo một số người, nó còn nằm trong chủ trương ngầm nhằm đồi trụy hóa thanh niên miền Nam, làm cho giới trẻ quên đi hoàn cảnh đất nước đang bị xâm lược, không màng tới nghĩa vụ đối với dân tộc.</p>
<p style="text-align: justify">Từ đó xuất hiện ở Sài Gòn một dòng văn học khiêu dâm trong đó các tác giả chuyên khai thác thị hiếu thấp hèn của người đọc, đề cao &#8220;phần con&#8221; hơn &#8220;phần người&#8221;, công khai cổ vũ cho những lối sống bệnh hoạn, biến thái. Bên cạnh những &#8220;phim con heo&#8221; (các danh từ &#8220;chợ heo&#8221;, &#8220;phim heo&#8221; này đều có nguồn gốc từ đây) bán công khai ngoài phố, báo chuyên in hình phụ nữ khỏa thân (Playboy, Penthouse, Nude&#8230;.) bày bán công khai trên vỉa hè các đường Lê Lợi, Công Lý&#8230;. ở ngay trung tâm thành phố, là những tiểu thuyết &#8220;người lớn&#8221; của những &#8220;chuyên gia&#8221; viết truyện khiêu dâm như Chu Tử, Lê Xuyên, Mai Thảo, Dương Nghiễm Mậu, Thụy Vũ&#8230;.</p>
<p style="text-align: justify">Những vấn đề nói trên đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng trong đời sống văn hóa &#8211; tinh thần của người dân. Sự sa đọa, trụy lạc trong xã hội đã gây ra nhiều thảm cảnh gia đình và hạnh phúc đổ vỡ, nhiều câu chuyện bi đát thương tâm. Qua các báo hằng ngày, không ngày nào là không có những vụ án mạng vì tình, những vụ tự tử, nhảy lầu, nhảy sông, đâm chém, bắn giết lẫn nhau vì giành nhau một người đẹp, kể cả trong quân đội ở các chức vị cao nhất (một ví dụ là &#8220;phó tổng thống&#8221; Nguyễn Cao Kỳ thời đó, do &#8220;nổi tiếng&#8221; với thái độ ngang ngược chỉa súng cướp bồ nhí của đàn em nên bị mọi người gọi là &#8220;Kỳ Cao Bồi&#8221;).</p>
<p style="text-align: justify">Tiến sĩ James Carter, giáo sư sử học tại Đại học Drew (Mỹ), trong sách Inventing Vietnam: The United States and State Building, 1954-1968 (dịch ý: Quá trình phát minh Nam Việt Nam: Hoa Kỳ và quá trình xây dựng Nhà nước VNCH, 1954-1968), do NXB Đại học Cambridge (Anh) phát hành năm 2008, đã cho biết: <em>&#8220;Chiến tranh cũng làm 100.000 thường dân thương vong mỗi năm. Dịch bệnh tăng vọt; dịch tả tăng từ hàng trăm lên đến 20.000 vụ. Khoảng từ 30.000 đến 50.000 người cụt chân tay chờ được lắp chân giả. Và chính phủ Sài Gòn chỉ dành<strong> chưa đầy 1% ngân sách</strong> cho dịch vụ y tế.&#8221;</em></p>
<p style="text-align: justify">Có lẽ từ những hiện thực trên mà sử gia Stanley I. Kutler trong Encyclopedia of The Vietnam War (Bách khoa thư Chiến tranh Việt Nam) do Simon &amp; Schuster McMillan xuất bản năm 1996, đây là cuốn sách viết theo quan điểm và tuyên truyền chính thức, chính thống và công khai của chính phủ Mỹ, đã phải viết về xã hội dưới thời Mỹ-Thiệu như sau:</p>
<p style="text-align: justify"><em>&#8220;Đối với hầu hết người dân trong các thành phố, đời sống càng ngày càng trở nên khó khăn. Vào năm 1972, có vào khoảng 800 ngàn trẻ em mồ côi lang thang trên các vỉa hè trong các đường phố ở Sài Gòn và một số thành phố khác, sống bằng nghề ăn mày, đánh giày, rửa xe, móc túi và dẫn khách làng chơi về cho chính chị gái và mẹ của chúng. Có vào khoảng 500 ngàn gái mại dâm và gái bán ba, trong đó có nhiều người là bà vợ của anh em quân nhân trong quân đội Nam Việt Nam. Họ phải làm cái việc ô nhục này để phụ cấp đồng lương chết đói của ông chồng không đủ nuôi cho một người. Ngoài ra, lại còn có khoảng 2 đến 3 triệu người, trong đó có những người già cả hay thương phế binh của quân đội Nam Việt Nam không thể nào tìm được công ăn việc làm. Vào năm 1974, tình trạng đói đã lan rộng ra nhiều nơi ở miền Nam. Theo cuộc thăm dò của anh em sinh viên Ca-tô thì ngay trong khu vực giàu có nhất trong thành phố Sàigòn, chỉ có 1/5 tổng số gia đình có đủ ăn, một nửa tổng số gia đình cho là có thể lo được mỗi ngày một bữa cơm và một bữa cháo bằng thứ gạo rẻ tiền nhất. Các gia đình còn lại đều đói. Đói và thất nghiệp đưa đến tội ác, tự tử và biểu tình trong khắp các vùng do chính quyền Nam Việt Nam quản lý.&#8221;</em></p>
<div id="attachment_161743" class="wp-caption aligncenter" style="width: 560px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/dai-nhac-hoi.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161743" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/dai-nhac-hoi.jpg" alt="Banner quảng cáo &quot;Đại nhạc hội xuân vùng 4 chiến thuật&quot; ở Sài Gòn (1971)." width="550" height="824" /></a><p class="wp-caption-text">Banner quảng cáo &quot;Đại nhạc hội xuân vùng 4 chiến thuật&quot; ở Sài Gòn (1971).</p></div>
<p style="text-align: justify">Tóm lại, miền Nam đã được giải phóng khỏi những gì? Trước hết là khỏi sự chiếm đóng của quân đội Mỹ, sự thao túng, lũng đoạn, ảnh hưởng của giặc ngoại xâm, ách đô hộ thực dân mới, và các tội ác chiến tranh.</p>
<p style="text-align: justify">Miền Nam không còn bóng giặc, không còn tiếng bom đạn, không còn những ngày đêm vùng vẫy trong những nhà tù lớn được gọi là &#8220;Ấp chiến lược&#8221;, không còn những ngày đêm bị càn bị quét, không còn những trận càn, ruồng bố, khủng bố trắng, tàn sát, hủy diệt hàng loạt và những tội ác chiến tranh to lớn mà nhiều người coi là những tội ác diệt chủng, chống nhân loại.</p>
<p style="text-align: justify">Không còn những thảm cảnh giết người đốt nhà, thảm sát, &#8220;ba sạch&#8221; (phá sạch, giết sạch, đốt sạch). Không còn những cảnh phụ nữ, trẻ con bị hiếp rồi giết. Không còn những cảnh những bà cụ, ông lão bị lùa xuống mương rồi xả súng. Không còn những tên giặc giơ thủ cấp của người Việt yêu nước khoe khoang trước ống kính. Không còn những đạo luật giết người, &#8220;lê máy chém&#8221; khắp nơi.</p>
<p style="text-align: justify">Không còn bọn mật vụ Phượng Hoàng hàng ngày hàng giờ lùng sục bắt cóc, thủ tiêu. Không còn những tên lính giặc không coi người Việt là loài người như sĩ quan Mỹ Celina Dunlop đã tự bạch trên kênh BBC Anh ngữ tháng 3 năm 2008:<em> &#8220;Phần lớn trong nhóm chúng tôi không coi người Việt là loài người.&#8221;</em> Không còn những thảm kịch hành hạ, tra tấn, cắt bỏ các bộ phận cơ thể phụ nữ, trẻ em. Không còn ai bị đày ra Côn Đảo, Phú Quốc, bị nhốt trong những &#8220;chuồng bò&#8221;, &#8220;chuồng cọp&#8221;. Bom đạn và chất độc hóa học không còn rơi lên trên đất Việt, người Việt.</p>
<p style="text-align: justify">Không còn những bi kịch lính Mỹ đối đãi bất công, đánh đập, giết chóc, &#8220;dội bom nhầm&#8221; lên một bộ phận lính ngụy, sĩ quan ngụy, giết &#8220;tổng thống&#8221; ngụy. Không còn những lần người Mỹ thí nghiệm và lùa lính ngụy đi vào đất chết. Không còn cảnh tượng lính Mỹ hãm hiếp, bắt làm nô lệ tình dục vợ con và người thân của lính ngụy. Không còn cảnh những cô gái Sài Gòn phấn son kỹ lưỡng với những chiếc váy không thể ngắn hơn đứng đầy đường công khai giữa ban ngày chào mời lính Mỹ.</p>
<p style="text-align: justify">Không còn cảnh những căn cứ quân sự nước ngoài đầy kẽm gai mọc lên như nấm, gần 100 vạn quân viễn chinh tự tung tự tác, muốn làm gì thì làm, không coi ai ra gì, cướp &#8211; hiếp &#8211; giết khắp nơi, xâm hại chà đạp lên quyền con người.</p>
<p style="text-align: justify">Không còn những phận đời trôi nổi của gần nửa triệu con lai và cô nhi của gần 6 triệu người Mỹ, khiến sau này hình thành một diện xuất cảnh chưa từng có trên thế giới là &#8220;diện con lai&#8221;.</p>
<div id="attachment_161744" class="wp-caption aligncenter" style="width: 590px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/con-lai-my.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161744" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/con-lai-my.jpg" alt="Nhiều trẻ em con lai Mỹ được lính Mỹ đưa về Hoa Kỳ trong những ngày cuối tháng 4 năm 1975" width="580" height="386" /></a><p class="wp-caption-text">Nhiều trẻ em con lai Mỹ được lính Mỹ đưa về Hoa Kỳ trong những ngày cuối tháng 4 năm 1975</p></div>
<p style="text-align: justify">Nông thôn và đô thị miền Nam cũng không còn những lần biểu tình bị đàn áp dã man bằng dùi cui, lựu đạn cay, roi điện, súng đạn. Những sân trường miền Nam không còn đổ máu, không còn những người dân, thanh niên, sinh viên miền Nam ngã xuống trước quân đội Mỹ và cảnh sát ngụy.</p>
<p style="text-align: justify">Tóm lại là không còn hàng trăm cuộc thảm sát ở miền Nam Việt Nam, không còn hàng ngàn tội ác của quân xâm lược. Không còn những mảnh đời đau khổ, trong đó có cả lính ngụy và người thân của họ. Không còn cảnh người Mỹ hoành hành khắp miền Nam, muốn giết ai thì giết, từ phụ nữ trẻ em cụ già cho đến &#8220;tổng thống&#8221;.</p>
<h4 style="text-align: justify"><strong>2. Thống nhất đất nước</strong></h4>
<p style="text-align: justify">Kể từ thời Nam &#8211; Bắc triều, rồi Trịnh &#8211; Nguyễn phân tranh, đất nước Việt Nam chưa bao giờ có được sự thống nhất thật sự và lâu dài. Trong thời Nguyễn sau này cũng xảy ra cuộc nổi dậy quy mô lớn của tướng Lê Văn Khôi đánh chiếm Nam Kỳ lục tỉnh ròng rã hai năm, biến Nam Kỳ lục tỉnh trở thành lãnh địa riêng của ông ta và ly khai với triều Nguyễn. Quanh đó là hàng loạt cuộc khởi nghĩa nông dân khác chống nhà Nguyễn, nhiều địa bàn trở thành nơi cát cứ ly khai của các thế lực thổ hào địa phương, xưng hùng một cõi.</p>
<p style="text-align: justify">Khi thực dân Pháp cướp nước ta, họ chia Đại Nam ra 3 kỳ, 3 xứ riêng lẻ (Nam Kỳ &#8211; Cochinchine, Trung Kỳ &#8211; Annam, Bắc Kỳ &#8211; Tonkin) với 3 chế độ cai trị khác biệt, phục vụ cho chính sách &#8220;chia để trị&#8221;, &#8220;dùng người Việt trị người Việt&#8221;.</p>
<p style="text-align: justify">Về danh nghĩa nhà nước, thì Nam Kỳ là nơi mà người Pháp coi là &#8220;xứ thuộc địa&#8221; của họ từ hiệp ước nhượng 3 tỉnh Nam Kỳ của Tự Đức, Phan Thanh Giản, Lâm Duy Hiệp, và sau đó họ hành quân chiếm thêm 3 tỉnh với &#8220;lý do&#8221; nhà Nguyễn không tôn trọng hiệp định hòa bình đã ký, dung túng nghĩa quân&#8230;. Còn Bắc Kỳ và Trung Kỳ, về danh nghĩa, được người Pháp gọi là &#8220;xứ bảo hộ&#8221; cho một vương triều &#8220;độc lập&#8221; của An Nam. Như vậy, dưới thời Pháp thuộc, nước Việt vừa bị chia 2, vừa bị chia 3. Chia 2 về danh nghĩa nhà nước. Chia 3 về chế độ cai trị.</p>
<p style="text-align: justify">Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam phục hồi nền độc lập sau gần 100 năm Pháp thuộc và mấy năm bị quân Nhật xâm lược. Chính phủ Việt Nam tuyên bố độc lập và thống nhất, xóa bỏ chế độ Bắc-Trung-Nam của thực dân và phát xít.</p>
<p style="text-align: justify">Tuy nhiên, sau đó quân Tàu Tưởng kéo vào miền Bắc, liên quân Anh &#8211; Pháp kéo vào Nam, sau đó thực dân Pháp quay lại tái chiếm thuộc địa, đại nghiệp thống nhất đất nước bị các thế lực đầy tham vọng từ nước ngoài ngăn trở. Quân dân Việt Nam trên cả nước phải bước vào cuộc chiến tranh khốc liệt chống quân Pháp xâm lược.</p>
<p style="text-align: justify">Sau khi hiệp định Genève 1954 được ký kết, đại nghiệp thống nhất Tổ quốc lại phải chờ hai năm. Nhưng Mỹ, vốn trong chiến tranh Pháp &#8211; Việt chính là kẻ đứng sau yểm trợ thực dân Pháp, đã từ hậu trường nhảy ra phía trước sân khấu, từng bước hất cẳng Pháp ra khỏi võ đài chính trị ở miền Nam Việt Nam.</p>
<div id="attachment_161746" class="wp-caption aligncenter" style="width: 560px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/cau-hien-luong.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161746" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/cau-hien-luong.jpg" alt="Cầu Hiền Lương bắc qua sông Bến Hải xưa và nay" width="550" height="783" /></a><p class="wp-caption-text">Cầu Hiền Lương bắc qua sông Bến Hải xưa và nay</p></div>
<p style="text-align: justify">Mỹ-ngụy đã phủ nhận hiệp định Genève về Đông Dương và dùng bạo lực ngăn cản việc thi hành hiệp định, với ý đồ chia cắt đất nước, canh giữ sông Bến Hải, ngăn cầu Hiền Lương ở vĩ tuyến 17, chia cắt không cho miền Nam và miền Bắc gặp nhau, gây khó khăn một cách có hệ thống cho việc giao lưu, qua lại, liên lạc Bắc-Nam.</p>
<p style="text-align: justify">Mỹ-ngụy chia cắt không cho nhân dân hai miền liên hệ. Họ chia cắt, gom dân, đàn áp, bỏ tù, bắn giết, không cho lãnh đạo miền Bắc vào miền Nam, không cho Đảng bộ miền Nam liên hệ ra Bắc. Họ xây dựng một loạt đồn bốt cảnh sát rải dọc bờ Nam sông Bến Hải, kéo dài từ Cửa Tùng đến Hói Cụ; với đội quân thám báo, mật vụ nhằm kìm kẹp, ngăn cản mọi sự quan hệ, qua lại của người dân đôi bờ.</p>
<p style="text-align: justify">Biết bao nhiêu nỗi khổ, nỗi nhớ nhung ray rứt người thân mà người dân đôi bờ Hiền Lương &#8211; Bến Hải quanh vĩ tuyến 17 phải chịu đựng. Nhiều gia đình ly tán, chồng Bắc, vợ Nam. Những nỗi nhớ, nỗi niềm này còn được phản ảnh qua nghệ thuật. Đã có nhiều thơ văn, thi ca nói lên nỗi đau chia cắt, như<em> &#8220;Bên ven bờ Hiền Lương, chiều nay ra đứng trông về…. ôi mắt đượm tình quê…. mắt đượm tình quê….&#8221;</em> (bài hát Câu hò bên bờ Hiền Lương &#8211; nhạc sĩ Hoàng Hiệp), <em>&#8220;Cách nhau chỉ một mái chèo &#8211; Mà đi trăm núi vạn đèo đến đây.&#8221;</em> (nhà thơ Thanh Hải), hay <em>&#8220;Cách một dòng sông mà đó thương đây nhớ &#8211; Cách một nhịp cầu mà duyên nợ cách xa.&#8221;</em> (dân gian).</p>
<p style="text-align: justify">Vào giai đoạn 1954-1964, ở đôi bờ Bến Hải đã được phát thanh lên một giọng ca ngọt ngào, ấm áp của NSND Châu Loan với những bài thơ, bài hò do bà thể hiện rất truyền cảm:</p>
<p style="text-align: justify"><em>&#8220;Chim xa rừng còn thương cây nhớ cội</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Thiếp xa chàng ngày đợi đêm trông</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Trong đồn chàng có nhớ thiếp không?</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Ngoài này thiếp vẫn chờ mong chàng về.&#8221;</em></p>
<div id="attachment_161747" class="wp-caption aligncenter" style="width: 590px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/tap-ket-ra-bac.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161747" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/tap-ket-ra-bac.jpg" alt="Bộ đội miền Nam rời bỏ quê hương, ruộng vườn, tạm biệt người thân để tập kết ra Bắc theo hiệp định Genève 1954" width="580" height="357" /></a><p class="wp-caption-text">Bộ đội miền Nam rời bỏ quê hương, ruộng vườn, tạm biệt người thân để tập kết ra Bắc theo hiệp định Genève 1954</p></div>
<div id="attachment_161749" class="wp-caption aligncenter" style="width: 590px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/bo-doi-mien-nam.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161749" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/bo-doi-mien-nam.jpg" alt="Bộ đội miền Nam rời bỏ quê hương, ruộng vườn, tạm biệt người thân để tập kết ra Bắc theo hiệp định Genève 1954" width="580" height="394" /></a><p class="wp-caption-text">Bộ đội miền Nam rời bỏ quê hương, ruộng vườn, tạm biệt người thân để tập kết ra Bắc theo hiệp định Genève 1954</p></div>
<p style="text-align: justify"><em>Có thể thấy gần như tất cả những người sắp tạm biệt nhau ở hình trên không có người nào buồn bã, ai nấy đều cho rằng chỉ tạm thời xa nhau trong 2 năm, tới năm 1956 đất nước thống nhất họ sẽ về nhà. Không ai ngờ <strong>cuộc chia ly 2 năm trở thành cuộc chia ly 21 năm.</strong></em></p>
<p style="text-align: justify">Trong phong trào đấu tranh của Đảng bộ và người dân miền Nam đòi tổng tuyển cử thống nhất đất nước theo hiệp định Genève 1954, với ý đồ chia cắt lâu dài Việt Nam, Mỹ-ngụy đã gây ra một <em>&#8220;cuộc chiến màu sắc&#8221;:</em> Giữa cầu Hiền Lương có một vạch trắng kẻ ngang, rộng 1cm được dùng làm ranh giới. Lính ngụy chủ động sơn một nửa cầu phía nam thành màu xanh, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa liền sơn tiếp màu xanh một nửa cầu còn lại. Sau lính ngụy lại chuyển sang màu nâu thì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng sơn lại màu nâu. Cứ như thế, cầu Hiền Lương luôn thay đổi màu sắc, hễ lính ngụy sơn một màu khác đi để tạo ra hai màu khác biệt thì ngay lập tức Quân đội Nhân dân Việt Nam liền sơn lại cho giống. Hành động sơn màu cầu là một hình thức đấu tranh chính trị nhằm nói lên khát vọng thống nhất của dân tộc Việt Nam đối với người Mỹ và nhân dân thế giới.</p>
<p style="text-align: justify">Từ đó, với tinh thần <em>&#8220;Các vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước.&#8221;</em> và <em>&#8220;Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi.&#8221;</em> của Bác Hồ, những con cháu của Bác đã tiếp nối cuộc kháng chiến chống Pháp, cố gắng một lần nữa thực hiện cuộc trường chinh gian khổ, kéo dài hơn 20 năm, để đánh đuổi xâm lăng và thống nhất nước nhà. <strong>Cuối cùng vào năm 1975, cây cầu chung một màu xanh thống nhất.</strong></p>
<p style="text-align: justify">Ngày nay, ở bờ Nam sông Bến Hải có một tượng đài với tên gọi:<em> &#8220;Khát vọng thống nhất non sông&#8221;.</em> Tượng đài có hình dáng của một thiếu phụ đang đứng ở bờ Nam sông Bến Hải nhìn về phía Bắc để tưởng nhớ những ngày tháng đau thương khi họ không thể vượt sông để gặp chồng con và gia đình.</p>
<p style="text-align: justify">Trải qua bao nhiêu gian khổ, đại nghiệp thống nhất Tổ quốc của dân tộc Việt Nam cuối cùng cũng đã hoàn thành vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã dẫn đến kết quả chấm dứt sự chia cắt đất nước của ngoại bang, đưa đến việc hoàn toàn thống nhất Việt Nam về hành chính, xã hội, địa lý, dân cư.</p>
<p style="text-align: justify">Thống nhất đây là thống nhất tất cả: Thống nhất vùng giải phóng và vùng tạm chiếm ở miền Nam, xóa đi các &#8220;mảnh da báo&#8221;, thống nhất Bắc Bộ và Nam Bộ, thống nhất ba miền Bắc-Trung-Nam, thống nhất toàn bộ lãnh thổ. Về phương diện pháp lý quốc tế, thì năm 1976 họp Quốc hội là thống nhất Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam thành 1 quốc gia: Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.</p>
<blockquote><p><strong><span style="text-decoration: underline">Xem lại các kỳ trước</span>:</strong></p>
<ul>
<li><strong><a href="/toan-canh-cuoc-doi-dau-lich-su-viet-my-1954-1975-ky-1.html" rel="nofollow" title="Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt – Mỹ 1954-1975 (Kỳ 1)"  target="_blank">Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt &#8211; Mỹ 1954-1975 (Kỳ 1)</a></strong></li>
<li><strong><a href="/toan-canh-cuoc-doi-dau-lich-su-viet-my-1954-1975-ky-2.html" rel="nofollow" title="Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt – Mỹ 1954-1975 (Kỳ 2)"  target="_blank">Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt &#8211; Mỹ 1954-1975 (Kỳ 2)</a></strong></li>
<li><strong><a href="/toan-canh-cuoc-doi-dau-lich-su-viet-my-1954-1975-ky-3.html" rel="nofollow" title="Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt – Mỹ 1954-1975 (Kỳ 3)"  target="_blank">Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt &#8211; Mỹ 1954-1975 (Kỳ 3)</a></strong></li>
<li><strong><a href="/toan-canh-cuoc-doi-dau-lich-su-viet-my-1954-1975-ky-4.html" rel="nofollow" title="Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt - Mỹ 1954-1975 (Kỳ 4)"  target="_blank">Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt &#8211; Mỹ 1954-1975 (Kỳ 4)</a></strong></li>
</ul>
</blockquote>
<p style="text-align: center">&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;</p>
<p style="text-align: justify"><strong>Tài liệu tham khảo</strong></p>
<p style="text-align: justify">Việt Nam:</p>
<ul>
<li>Hồ Chí Minh toàn tập &#8211; Chủ tịch Hồ Chí Minh &#8211; Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (2000)</li>
<li>Hồi ức: Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng &#8211; Đại tướng Võ Nguyên Giáp &#8211; Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (2000)</li>
<li>Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về tội ác chiến tranh xâm lược &#8211; Nguyễn Quốc Hùng &#8211; Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh &amp; Nhà xuất bản Trẻ (2003)</li>
<li>Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam &#8211; Gíáo sư Phan Huy Lê, Nhà nghiên cứu sử học Dương Trung Quốc, Trần Xuân Thanh &#8211; Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (2010)</li>
<li>Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 (tập 1-8) &#8211; Trung tướng Giáo sư Hoàng Phương, Thượng tá Nguyễn Văn Minh, Đại tá Hoàng Dũng, Đại tá Trần Bưởi, Đại tá Đỗ Xuân Huy, Đại tá Tiến sĩ Hồ Khang, Trung tá Nguyễn Huy Thục, Trung tá Nguyễn Xuân Năng, Trung tướng Nguyễn Đình Ước, Thượng tá Ngô Văn Bính, Thượng tá Trần Tiến Hoạt, Đại tá Tiến sĩ Trịnh Vương Hồng, Trung úy Lê Quang Lạng, Đại tá Nguyễn Như Minh, Đại úy Nguyễn Văn Quyền, Thiếu tướng Tiến sĩ Phạm Văn Thạch &#8211; Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (1995-2008)</li>
<li>Quân và dân miền Nam đấu tranh phòng chống vũ khí hóa học của Mỹ trong những năm 1961-1972 &#8211; Tiến sĩ Nguyễn Đức Hòa &#8211; Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh xuất bản (2009)</li>
<li>Cuộc Đồng khởi kỳ diệu ở miền Nam Việt Nam 1959-1960 &#8211; Nhà nghiên cứu lịch sử quân sự Đại tá Lê Hồng Lĩnh &#8211; Nhà xuất bản Đà Nẵng (2006)</li>
<li>Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Bến Tre &#8211; Thiếu tá Vũ Bình, Đại úy Phạm Hoài Bão, Thượng úy Phạm Ngọc Tuấn &#8211; Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Bến Tre xuất bản (1985)</li>
<li>Mậu Thân 1968, cuộc đối chiến lịch sử &#8211; Nguyễn Phương Tân, Lê Ngọc Tú &#8211; Nhà xuất bản Lao Động (2008)</li>
<li>5 Đường mòn Hồ Chí Minh &#8211; Đặng Phong &#8211; Nhà xuất bản Tri Thức &amp; Phương Nam Books (2008)</li>
<li>Bộ Tham mưu Hải quân &#8211; Biên niên sự kiện (1959-2004) &#8211; Nguyễn Văn Đấu, Dương Thảo, Đặng Văn Tới &#8211; Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân (2004)</li>
<li>Lịch sử Sài Gòn &#8211; Chợ Lớn &#8211; Gia Định kháng chiến (1945-1975) &#8211; Trần Hải Phụng, Lưu Phương Thanh, Hồ Sơn Đài, Trần Phấn Chấn &#8211; Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh (1994)</li>
<li>Khu VIII &#8211; Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975) &#8211; Nguyễn Minh Đường, Nguyễn Văn Triệu, Lê Minh Đức, Phạm Văn Kim, Cao Văn Sáu, Đặng Văn Tố, Nguyễn Xuân An &#8211; Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (2001)</li>
<li>Khu VI kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 &#8211; Đại tá Trần Dương, Đại tá Võ Đức Nhi, Thiếu tá Nguyễn Đức Tấn &#8211; Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (2002)</li>
<li>Bài tham luận của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong hội thảo khoa học &#8220;Đại thắng mùa Xuân 1975 &#8211; Bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam&#8221; do Bộ Quốc phòng, Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, Ban Tư tưởng &#8211; Văn hóa Trung ương tổ chức ngày 14 và 15/4/2005, ghi lại trên Tạp chí Xưa &amp; Nay số 234 (2005)</li>
<li>Phim tài liệu &#8220;Đồng khởi &#8211; Bến tre&#8221; &#8211; Đạo diễn Lê Phong Lan &#8211; Công ty TNHH Truyền thông Đồng đội sản xuất &amp; Đài Truyền hình Việt Nam sản xuất và phát hành (2009)</li>
<li>Phim tài liệu &#8220;Lực lượng vũ trang Thành phố Hồ Chí Minh anh hùng&#8221; &#8211; Đạo diễn Hồ Minh Đức &#8211; Bộ tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh, Hãng phim Truyền Hình Thành phố Hồ Chí Minh &amp; Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh sản xuất và phát hành (2011)</li>
<li>Phim tài liệu &#8220;Nơi huyền thoại bắt đầu&#8221; &#8211; Đạo diễn Thanh Lan &#8211; Trung tâm phim tài liệu phóng sự Đài truyền hình Việt Nam &amp; Đài truyền hình Việt Nam sản xuất và phát hành (2012)</li>
<li>Phim tài liệu &#8220;Mậu Thân 1968&#8243; &#8211; Đạo diễn Lê Phong Lan &#8211; Hãng phim truyền hình Bản Sắc Việt &amp; Đài Truyền hình Việt Nam sản xuất và phát hành (2012)</li>
</ul>
<p style="text-align: justify"><strong>Hoa Kỳ và quốc tế:</strong></p>
<ul>
<li>General Vo Nguyen Giap and the Mysterious Evolution of the Plan for the 1968 Tet Offensive (Tướng Võ Nguyên Giáp và tiến trình bí mật của kế hoạch Tết Mậu Thân 1968) &#8211; Nhà sử học, Việt Nam học Merle L. Pribbenow II &#8211; Vietnam study department Đại học California xuất bản (2008)</li>
<li>Cuộc chiến dài ngày giữa nước Mỹ và Việt Nam 1950-1975 &#8211; George C. Herring (Phạm Ngọc Thạch dịch) &#8211; Nhà xuất bản Công an Nhân dân (2004)</li>
<li>Lyndon Johnson&#8217;s War: The Road to Stalemate (Cuộc chiến của Lyndon Johnson: Đường đi đến bế tắc) &#8211; Giáo sư Larry Berman &#8211; W. W. Norton &amp; Company (1991)</li>
<li>The White House Years (Những năm tháng ở Nhà Trắng) &#8211; Cựu ngoại trưởng Henry Kissinger &#8211; Simon &amp; Schuster (2011)</li>
<li>A Soldier Reports (Tường trình của một quân nhân) &#8211; Đại tướng William Westmoreland &#8211; Doubleday (1976)</li>
<li>Kill Anything That Moves: U.S. War Crimes And Atrocities In Vietnam, 1965-1973 (Giết bất cứ vật gì chuyển động: Tội ác chiến tranh hung bạo của Mỹ ở Việt Nam) &#8211; Nhà sử học kiêm nhà báo Nick Turse &#8211; Nhà xuất bản Đại học Columbia (2005)</li>
<li>The United States and Biological Warfare: Secrets from the Early Cold War and Korea (Hoa Kỳ và Chiến tranh hóa học: Bí mật từ đầu Chiến tranh lạnh và Triều Tiên) &#8211; Stephen Endicott, Edward Hagermann &#8211; Nhà xuất bản Đại học Indiana (1998)</li>
<li>The War Behind Me: Vietnam Veterans Confront the Truth About U.S. War Crimes (Cuộc chiến sau lưng tôi: Cựu binh Chiến tranh Việt Nam chất vấn sự thật về tội ác chiến tranh Hoa Kỳ) &#8211; Deborah Nelson &#8211; Basic Books (2008)</li>
<li>America in Vietnam: a documentary history (Hoa Kỳ ở Việt Nam: một tài liệu lịch sử) &#8211; William Appleman Williams, Lloyd C. Gardner, Walter LaFeber &#8211; W. W. Norton &amp; Company (1989)</li>
<li>Dictionary of the Vietnam War (Tự điển thuật ngữ về Chiến tranh Việt Nam) &#8211; nhà sử học James Olson, Greenwood Press (1988)</li>
<li>Crimes of War: What the Public Should Know (Tội ác chiến tranh: Những gì công chúng nên biết) &#8211; Lewis M. Simmons &#8211; Roy Gutman xuất bản (1999)</li>
<li>&#8220;Guide to the Vietnam War&#8221; (Hướng dẫn kiến thức cơ bản Chiến tranh Việt Nam) &#8211; David L. Anderson &#8211; Nhà xuất bản Columbia (2004)</li>
<li>Những bí mật về Chiến tranh Việt Nam &#8211; Tiến sĩ Daniel Ellsberg (Tĩnh Hà, Kiều Oanh dịch) &#8211; Nhà xuất bản Công an Nhân dân (2006)</li>
<li>Sự lừa dối hào nhoáng &#8211; Nhà báo Neil Sheehan (Đoàn Doãn dịch) &#8211; Nhà xuất bản Công an Nhân dân (2003)</li>
<li>40 ngày sống với đối phương &#8211; Richard Dudman (Trần Ngọc Châu, Dương Thủy dịch) &#8211; Nhà xuất bản Trẻ (2005)</li>
<li>Những gì tôi thấy ở Việt Nam &#8211; Alain Wasmes (Nguyễn Huy Cầu dịch) &#8211; Nhà xuất bản Công an Nhân dân (2004)</li>
<li>Nhìn lại quá khứ: Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam &#8211; Cựu Bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ Robert McNamara (Hồ Chính Hạnh, Huy Bình, Thu Thủy, Minh Nga dịch) &#8211; Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (1995)</li>
<li>The Palace File (Hồ sơ mật Dinh Độc Lập) &#8211; Nguyễn Tiến Hưng &#8211; Harper &amp; Row Publishers (1986)</li>
<li>The Vietnam War in American memory: veterans, memorials, and the politics of healing (Chiến tranh Việt Nam trong ký ức người Mỹ: cựu binh, tưởng niệm, và yếu tố chính trị của sự lành lại vết thương) &#8211; Patrick Hagopian &#8211; Nhà xuất bản Đại học Massachusetts (2009)</li>
<li>Vietnam and Other American Fantasies (Việt Nam và các ảo tưởng khác của người Mỹ) &#8211; Bruce Franklin &#8211; Nhà xuất bản Massachusetts (2001)</li>
<li>Inventing Vietnam: The United States and State Building, 1954-1968 (dịch ý: Quá trình phát minh Nam Việt Nam: Hoa Kỳ và quá trình xây dựng Nhà nước Việt Nam Cộng hòa, 1954-1968) &#8211; Tiến sĩ James Carter &#8211; Nhà xuất bản Đại học Cambridge (2008)</li>
<li>Secrets: A Memoir of Vietnam and the Pentagon Papers (Một tưởng nhớ về Việt Nam và Hồ sơ Lầu Năm Góc) &#8211; Tiến sĩ Daniel Ellsberg &#8211; Nhà xuất bản Viking (2002)</li>
<li>Understanding Power: The Indispensable Chomsky (Nhận diện quyền lực: Chomsky và những điều không thể bỏ qua) &#8211; Mitchell Schoeffel, Peter Schoeffel, John Schoeffel &#8211; Nhà xuất bản Vintage (2003)</li>
<li>The Vietnam War and American Culture (Chiến tranh Việt Nam và văn hóa Mỹ) &#8211; John Carlos Rowe, Rick Berg &#8211; Nhà xuất bản Đại học Columbia (1991)</li>
<li>Historical Dictionary of the 1970s (Tự điển lịch sử của thập niên 1970) &#8211; Giáo sư sử học James Stuart Olson &#8211; Nhà xuất bản Greenwood (1999)</li>
<li>Fire in the Lake: The Vietnamese and the Americans in Vietnam (Ngọn lửa trên sông: Người Việt và người Mỹ ở Việt Nam) &#8211; Nhà báo Frances FitzGerald &#8211; Nhà xuất bản Back Bay Books (2002)</li>
<li>Ngày tàn ngụy chúa &#8211; Marshal Brement (Bạch Phương dịch) &#8211; Nhà xuất bản Thanh Niên (2011)</li>
<li>Vietnam War Era: A Personal Journey (Thời kỳ Chiến tranh Việt Nam: Một hành trình riêng) &#8211; Giáo sư sử học Bruce Solheim &#8211; Nhà xuất bản Đại học Nebraska (2008)</li>
<li>Anything But the Truth: the Credibility Gap-How the News is Managed in Washington (Tất cả ngoài sự thật: Khoảng cách tin cậy về cách quản lý thông tin ở Washington) &#8211; Erwin Knoll, William McGaffin &#8211; G. P. Putnam&#8217;s Sons (1968)</li>
<li>The United States in Vietnam: An analysis in depth of the history of America’s involvement in Vietnam (Hoa Kỳ ở Việt Nam: Một phân tích chuyên sâu về lịch sử can thiệp của Hoa Kỳ vào Việt Nam) &#8211; Nhà chính trị học George McTurnan Kahin, John W. Lewis &#8211; Delta Books (1967)</li>
<li>Vietnam, a History (Việt Nam, một Lịch sử) &#8211; Nhà sử học Stanley Karnow &#8211; Nhà xuất bản Edition King (1983)</li>
<li>The Politics of Heroin in Southeast Asia (Nền chính trị ma túy ở Đông Nam Á) &#8211; Tiến sĩ sử học Alfred W. McCoy, Cathleen B. Read &#8211; Harper &amp; Row (1972)</li>
<li>The Deaths of the Cold War Kings: The Assassinations of Diem and JFK (Cái chết của những ông vua Chiến tranh lạnh: Vụ ám sát Diệm và John F. Kennedy) &#8211; Bradley S. O’ Leary, Edward Lee &#8211; Cemetery Dance (1999)</li>
<li>Encyclopedia of The Vietnam War (Bách khoa thư Chiến tranh Việt Nam) &#8211; Sử gia Stanley Kutler &#8211; Simon &amp; Schuster McMillan xuất bản (1996)</li>
<li>Encyclopedia of the Vietnam War (Bách khoa thư Chiến tranh Việt Nam) &#8211; Đại tá Tiến sĩ Spencer C. Tucker &#8211; ABC-CLIO (2000)</li>
<li>The secret team: The CIA and its allies in control of the United States and the world (Đội ngũ bí mật: CIA và các đồng minh kiểm soát Hoa Kỳ và thế giới) &#8211; Đại tá Fletcher Prouty &#8211; Prentice-Hall (1973)</li>
<li>Anatomy of a War: Vietnam, the United States, and the Modern Historical Experience (Giải phẫu một cuộc chiến tranh: Việt Nam, Hoa Kỳ, và trải nghiệm lịch sử hiện đại) &#8211; Gabriel Kolko &#8211; Pantheon Books (1985)</li>
<li>Foreign Aid, War, and Economic Development: South Vietnam, 1955-1975 (Viện trợ nước ngoài, Chiến tranh, và Phát triển kinh tế: Nam Việt Nam, 1955-1975) &#8211; Nhà kinh tế học Douglas Dacy &#8211; Đại học Cambridge (2005)</li>
<li>Death Zones and Darling Spies, seven years of Vietnam War reporting (Tử địa và các điệp viên đáng yêu, bảy năm làm phóng sự về Chiến tranh Việt Nam) &#8211; Beverly Deepe Keever &#8211; Nhà xuất bản Đại học Nebraska (2013)</li>
<li>Kill Anything That Moves: The Real American War in Vietnam (Giết bất cứ thứ gì chuyển động: Cuộc chiến thật sự của Mỹ ở Việt Nam) &#8211; Nhà sử học kiêm nhà báo Nick Turse &#8211; Metropolitan Books (2013)</li>
<li>U.S. Marines in Vietnam: The Bitter End, 1973-1975 (Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ ở Việt Nam: Sự kết thúc cay đắng, 1973-1975) &#8211; George R. Dunham &#8211; Nhà xuất bản Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ (1990)</li>
<li>Hồ sơ SSN/0802 USMC, bản báo cáo After Action Report 17/4/1975 &#8211; 7/5/1975 &#8211; Thiếu tá James H. Kean</li>
<li>Cuộc phỏng vấn Trung tướng Lưu Á Châu, Chính ủy Không quân Quân khu Thành Đô, Trung Quốc trên tạp chí Khoa Học Quân Sự Không Quân (2010)</li>
<li>Thời báo New York, phát hành ngày 8/6/1963</li>
<li>Tuần báo Time, phát hành ngày 8/6/1964</li>
<li>Bưu báo Washington, phát hành ngày 8/6/1964</li>
<li>Phim tài liệu &#8220;Vietnam: The 10,000 Day War&#8221; (Việt Nam: Cuộc chiến 10.000 ngày) &#8211; Đạo diễn Michael Maclear &#8211; Tập đoàn Truyền thông Canada (CBC) sản xuất (1980)</li>
<li>Phim tài liệu &#8220;Vietnam: A Television History&#8221; (Việt Nam: Thiên lịch sử truyền hình) &#8211; Đài truyền hình PBS (Mỹ), WGBH Boston (Mỹ), CIT (Anh), Antenne–2 (Pháp) và LRE Production (Pháp) sản xuất và phát hành (1983)</li>
<li>Phim tài liệu &#8220;Việt Nam Thống Nhất&#8221; &#8211; Đạo diễn Yamamoto Satsuo, Toma Hiroichi, Yuki Yoshihiro, Suzuki Toshikazu &#8211; Hiệp hội Phát hình Nhật Bản Nippon Hōsō Kyōkai (NHK) sản xuất (1975)</li>
<li>Phim tài liệu &#8220;The Cu Chi Tunnels&#8221; (Địa đạo Củ Chi) &#8211; Đạo diễn Mickey Grant &#8211; Mickey Grant &amp; Stan Cottrell sản xuất (1986)</li>
<li>Tài liệu Internet</li>
<li>Từ điển Bách khoa thư Việt Nam</li>
<li>Bách khoa toàn thư mở</li>
<li>Bách khoa thư Farlex</li>
<li>Đại tự điển Việt Nam</li>
<li>Bách khoa Tri thức Việt Nam</li>
</ul>
<p><strong>(Blogger Thiếu Long)</strong></p>
<p><span id="more-42631"></span></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://trandaiquang.net/toan-canh-cuoc-doi-dau-lich-su-viet-my-1954-1975-ky-cuoi-2.html/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt – Mỹ 1954-1975 (Kỳ 6)</title>
		<link>http://trandaiquang.net/toan-canh-cuoc-doi-dau-lich-su-viet-my-1954-1975-ky-6.html</link>
		<comments>http://trandaiquang.net/toan-canh-cuoc-doi-dau-lich-su-viet-my-1954-1975-ky-6.html#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 25 May 2013 06:10:38 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Ban Biên Tập</dc:creator>
				<category><![CDATA[An ninh - Quốc phòng]]></category>
		<category><![CDATA[16 tấn vàng]]></category>
		<category><![CDATA[16 tan vang cua nguyen van thieu]]></category>
		<category><![CDATA[16 tan vang nguyen van thieu]]></category>
		<category><![CDATA[16 tan vang vnch]]></category>
		<category><![CDATA[Blogger Thiếu Long]]></category>
		<category><![CDATA[Chiến thắng 30/4]]></category>
		<category><![CDATA[Chiến tranh hóa học]]></category>
		<category><![CDATA[Chiến tranh khí tượng]]></category>
		<category><![CDATA[chiến tranh tâm lý]]></category>
		<category><![CDATA[Chiến tranh Việt Mỹ]]></category>
		<category><![CDATA[chien tranh viet nam]]></category>
		<category><![CDATA[Chiến tranh điện tử]]></category>
		<category><![CDATA[CIA buôn lậu ma túy]]></category>
		<category><![CDATA[Diệt Cộng]]></category>
		<category><![CDATA[Emily con ơi]]></category>
		<category><![CDATA[Free-fire-zone]]></category>
		<category><![CDATA[Giải phóng miền Nam]]></category>
		<category><![CDATA[Hàng rào điện tử McNamara]]></category>
		<category><![CDATA[Hanoi Jane]]></category>
		<category><![CDATA[Hiệp định Genève]]></category>
		<category><![CDATA[Hiệp định Geneve 1954]]></category>
		<category><![CDATA[hòn ngọc Viễn Đông]]></category>
		<category><![CDATA[Jane Fonda]]></category>
		<category><![CDATA[Martin Luther King]]></category>
		<category><![CDATA[Mật vụ Phượng Hoàng]]></category>
		<category><![CDATA[Ngộ nhận chiến tranh Việt Nam]]></category>
		<category><![CDATA[Ngô Đình Nhu]]></category>
		<category><![CDATA[Nguyễn Cao Kỳ]]></category>
		<category><![CDATA[Nguyễn Văn Thiệu]]></category>
		<category><![CDATA[Norman Morrison]]></category>
		<category><![CDATA[Phân biệt chủng tộc]]></category>
		<category><![CDATA[Phản chiến]]></category>
		<category><![CDATA[Phong trào phản chiến]]></category>
		<category><![CDATA[Sự kiện Mậu Thân 1968]]></category>
		<category><![CDATA[Sự thật chiến tranh Việt Nam]]></category>
		<category><![CDATA[Tết Mậu Thân]]></category>
		<category><![CDATA[Tết Mậu Thân 1968]]></category>
		<category><![CDATA[tham sat my lai]]></category>
		<category><![CDATA[thảm sát Sơn Mỹ]]></category>
		<category><![CDATA[Tố Cộng]]></category>
		<category><![CDATA[Trần Lệ Xuân]]></category>
		<category><![CDATA[Viện trợ chiến tranh]]></category>
		<category><![CDATA[Việt Nam cộng hòa]]></category>
		<category><![CDATA[Vo Nguyen Giap]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://trandaiquang.net/toan-canh-cuoc-doi-dau-lich-su-viet-my-1954-1975-ky-6.html</guid>
		<description><![CDATA[Tình nghĩa giữa Việt Nam với nhân dân Mỹ và thế giới Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, các phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam và bày tỏ tinh thần ủng hộ Việt Nam của người nước ngoài [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<h3 style="text-align: justify"><strong>Tình nghĩa giữa Việt Nam với nhân dân Mỹ và thế giới</strong></h3>
<p style="text-align: justify">Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, các phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam và bày tỏ tinh thần ủng hộ Việt Nam của người nước ngoài đã diễn ra khắp thế giới, đặc biệt ở ngay tại chính quốc Hoa Kỳ, và đặc biệt dữ dội trong giai đoạn từ năm 1964 đến 1973 khi đại quân Hoa Kỳ trực tiếp chiến đấu ở Việt Nam.</p>
<blockquote><p><strong><span style="text-decoration: underline">Xem lại các kỳ trước</span>:</strong></p>
<ul>
<li><strong><a href="/toan-canh-cuoc-doi-dau-lich-su-viet-my-1954-1975-ky-1.html" rel="nofollow" title="Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt – Mỹ 1954-1975 (Kỳ 1)"  target="_blank">Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt &#8211; Mỹ 1954-1975 (Kỳ 1)</a></strong></li>
<li><strong><a href="/toan-canh-cuoc-doi-dau-lich-su-viet-my-1954-1975-ky-2.html" rel="nofollow" title="Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt – Mỹ 1954-1975 (Kỳ 2)"  target="_blank">Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt &#8211; Mỹ 1954-1975 (Kỳ 2)</a></strong></li>
<li><strong><a href="/toan-canh-cuoc-doi-dau-lich-su-viet-my-1954-1975-ky-3.html" rel="nofollow" title="Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt – Mỹ 1954-1975 (Kỳ 3)"  target="_blank">Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt &#8211; Mỹ 1954-1975 (Kỳ 3)</a></strong></li>
<li><strong><a href="/toan-canh-cuoc-doi-dau-lich-su-viet-my-1954-1975-ky-4.html" rel="nofollow" title="Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt - Mỹ 1954-1975 (Kỳ 4)"  target="_blank">Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt &#8211; Mỹ 1954-1975 (Kỳ 4)</a></strong></li>
<li><strong><a href="/toan-canh-cuoc-doi-dau-lich-su-viet-my-1954-1975-ky-5.html" rel="nofollow" title="Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt - Mỹ 1954-1975 (Kỳ 5)"  target="_blank">Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt &#8211; Mỹ 1954-1975 (Kỳ 5)</a></strong></li>
</ul>
</blockquote>
<p style="text-align: justify">Tại Mỹ, phong trào bao gồm hơn 200 tổ chức quần chúng, trong đó có nhiều tổ chức nằm dưới dưới sự lãnh đạo của Ủy ban Phối hợp Toàn quốc đấu tranh đòi chấm dứt chiến tranh xâm lược ở Việt Nam. Được hàng trăm thành phố, hàng chục vạn người tham gia đấu tranh bằng nhiều hình thức phong phú và quyết liệt (mít tinh, biểu tình, đốt thẻ quân dịch, bãi khóa, chống lính, tự thiêu&#8230;.).</p>
<p style="text-align: justify">Một vài sự kiện tiêu biểu như: Cuộc biểu tình đồng loạt của khoảng 10 vạn người ở 60 thành phố trong ngày Quốc tế phản đối chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Miền Nam Việt Nam (15-17/10/1965), do Ủy ban Ngày Việt Nam tổ chức; Tuần lễ chống chiến tranh xâm lược Việt Nam, tháng 10/1967 của khoảng 2 vạn người khắp nước Mỹ tập trung về Washington (có sự phối hợp đấu tranh của người dân các nước Canada, Anh, Đức, Pháp, Bỉ, Ý, Thụy Điển, Phần Lan, Na Uy, Đan Mạch, Úc&#8230;.); có 16 vụ tự thiêu để phản đối cuộc chiến của Mỹ ở Việt Nam; năm 1968, gần 5 vạn thanh niên trốn lính trong phong trào chống đi lính; gần 1 ngàn trường cao đẳng và đại học tổng bãi khóa; gần 300 ngàn công nhân thuộc ngành hàng không, ngành điện&#8230;. đình công, làm tê liệt các ngành sản xuất này.</p>
<p style="text-align: justify">Xuất phát từ sự đàn áp bằng bạo lực và sự kỳ thị của cảnh sát da trắng tại nhiều nơi, ngày 7/8/1966 các cộng đồng người da đen đã phản ứng mạnh và gần như nổ ra nội chiến ở khoảng 100 thành phố, nhất là các thành phố ở California và New York, vùng Tây Nam và Đông Bắc Hoa Kỳ.</p>
<p style="text-align: justify">Khoảng 16 triệu trong số 27 triệu thanh niên Mỹ đến tuổi quân dịch đã chống lệnh cưỡng bách quân dịch, khoảng 2 triệu người Mỹ bị các chính quyền Mỹ cáo buộc <em>&#8220;gây thiệt hại bất hợp pháp&#8221;</em> vì phản đối chiến tranh Việt Nam. Trong phong trào chống bắt lính, có khoảng 75 ngàn người Mỹ đã phải bỏ ra nước ngoài vì không chịu nhập ngũ, và ở bên ngoài họ tiếp tục đấu tranh chống chiến tranh xâm lược, trong đó có người thanh niên Bill Clinton, người sau này là tổng thống Hoa Kỳ.</p>
<p style="text-align: justify">Trong những lần biểu tình phản đối chiến tranh xâm lược Việt Nam, người Mỹ giương cao các biểu ngữ: <em>&#8220;Hey, hey LBJ, how many kids have you killed today?&#8221;</em> (Lyndon B. Johnson, hôm nay ông đã giết bao nhiêu trẻ em rồi?),<em> &#8220;Ho, Ho, Ho Chi Minh! The NLF is going to win!&#8221;</em> (Hồ, Hồ, Hồ Chí Minh! Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam sẽ chiến thắng!).</p>
<p style="text-align: justify">Tóm tắt lại, cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam đã được bạn bè thế giới và Hoa Kỳ ủng hộ mạnh mẽ bằng nhiều hình thức phong phú. Trong đó, có:</p>
<ul>
<li>Hơn 10 Ủy ban quốc tế đoàn kết với Việt Nam của các tổ chức dân chủ, tôn giáo và tổ chức xã hội trên toàn thế giới.</li>
<li>Hơn 200 tổ chức, ủy ban, phong trào đoàn kết ủng hộ Việt Nam ở hầu hết các nước trên thế giới.</li>
<li>Hơn 30 hội nghị quốc tế về Việt Nam và nhiều hội nghị quốc tế khác đã dành thời gian thảo luận bàn biện pháp để ủng hộ Việt Nam.</li>
<li>Hàng trăm nước có mít tinh, biểu tình, bãi công chống Mỹ xâm lược Việt Nam.</li>
<li>Hơn 50 nước có phong trào quyên góp ủng hộ Việt Nam.</li>
<li>16 nước có phong trào hiến máu ủng hộ Việt Nam.</li>
<li>48 người ở 4 nước ngoài tự thiêu (trong đó có 16 công dân Mỹ) để phản đối chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam.</li>
<li>83 cơ quan đại diện Mỹ ở các nước bị người dân đập phá, cờ Mỹ bị nhân dân ở 73 nước đốt để phản đối chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam.</li>
</ul>
<div id="attachment_161676" class="wp-caption aligncenter" style="width: 590px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/su-doan-khong-ky-1.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161676" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/su-doan-khong-ky-1.jpg" alt="Sư đoàn Không Kỵ 1 của quân đội Mỹ tại khu vực cách Quảng Trị 8km về hướng nam (13/3/1968). Nơi đây từng là nơi đặt Bộ chỉ huy tiền phương của QĐNDVN, sau khi rút quân đã để lại một thông điệp trên tường bằng tiếng Anh. Tạm dịch: Không có sự hận thù giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Mỹ. Tại sao phải giết nhau? Hãy chung tay xây đắp tình bằng hữu của chúng ta&quot;. Ảnh: Bettmann/Corbris" width="580" height="384" /></a><p class="wp-caption-text">Sư đoàn Không Kỵ 1 của quân đội Mỹ tại khu vực cách Quảng Trị 8km về hướng nam (13/3/1968). Nơi đây từng là nơi đặt Bộ chỉ huy tiền phương của QĐNDVN, sau khi rút quân đã để lại một thông điệp trên tường bằng tiếng Anh. Tạm dịch: Không có sự hận thù giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Mỹ. Tại sao phải giết nhau? Hãy chung tay xây đắp tình bằng hữu của chúng ta&quot;. Ảnh: Bettmann/Corbris</p></div>
<div id="attachment_161677" class="wp-caption aligncenter" style="width: 590px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/nhan-dan-my.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161677" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/nhan-dan-my.jpg" alt="Người dân Mỹ giương cao cờ Mặt Trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và cờ Hoa Kỳ để nói lên tình hữu nghị Việt - Mỹ và bày tỏ nguyện vọng hòa bình, phản đối cuộc chiến của chủ nghĩa đế quốc ở Việt Nam." width="580" height="383" /></a><p class="wp-caption-text">Người dân Mỹ giương cao cờ Mặt Trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và cờ Hoa Kỳ để nói lên tình hữu nghị Việt - Mỹ và bày tỏ nguyện vọng hòa bình, phản đối cuộc chiến của chủ nghĩa đế quốc ở Việt Nam.</p></div>
<h4 style="text-align: justify"><strong>1. Ngọn lửa Morrison</strong></h4>
<p style="text-align: justify">Ngày 2/11/1965, 8 tháng sau khi quân đội viễn chinh Mỹ bắt đầu đặt chân vào Đà Nẵng của Việt Nam, một người Mỹ là Norman Morrison đã tự thiêu ngay trước Lầu Năm Góc ở thủ đô Washington để phản đối Chiến tranh Việt Nam. Hành động này đã làm bùng lên phong trào phản đối Chiến tranh Việt Nam đã âm ỉ từ lâu ngay trong lòng nước Mỹ.</p>
<p style="text-align: justify">Ông Norman Morrison quê quán ở Erie thuộc bang Pensylvania, Hoa Kỳ. Năm 1959, ông nhận bằng Cử nhân Thần học tại Đại học Pittsburgh Seminary và gia nhập hội<em> &#8220;Những người bạn&#8221;,</em> một tổ chức gồm những người hoạt động vì hòa bình thế giới. Năm 1961-1962, ông dạy Kinh Tân ước và Cựu ước tại một trường trung học. Ông là một trong những người hoạt động tích cực trong phong trào hoạt động phản đối cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của chính quyền Lyndon B. Johnson.</p>
<p style="text-align: justify">Từ năm 1965, khi Mỹ ồ ạt đưa quân vào miền Nam và dùng không quân đánh phá tràn lan ra các tỉnh miền Bắc Việt Nam, Morrison đã nhiều lần xuống đường phản đối, nhưng cuộc chiến tranh ngày một khốc liệt hơn. Ông nghĩ rằng các khẩu hiệu, băng rôn và các cuộc tuần hành không làm những người cầm quyền chú ý thì anh phải dùng tới biện pháp cuối cùng: Ngọn lửa của thân thể mình! Thời điểm đó, Morrison đã có vợ và hai con gái, nhỏ tuổi nhất là cháu bé tên Emily, mới 18 tháng tuổi. Buổi chiều ngày 2/11/1965, Morrison bế bé Emily đến sát Lầu Năm Góc, trụ sở của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, bên dòng sông Potomac, sau khi đã viết lá thơ gởi lại cho vợ. Morrison đặt cháu Emily ra xa rồi tưới xăng, châm lửa tự thiêu, ánh lửa bùng lên như một thông điệp của người dân Mỹ đòi chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược và các tội ác của quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam.</p>
<div id="attachment_161679" class="wp-caption aligncenter" style="width: 560px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/Norman_Morrison.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161679" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/Norman_Morrison.jpg" alt="Norman Morrison" width="550" height="801" /></a><p class="wp-caption-text">Norman Morrison</p></div>
<p style="text-align: justify">Theo hồi tưởng của vợ Norman Morrison, bà Anne Morrison Welsh, vào buổi sáng hôm đó, Morrison bế con gái thứ hai của mình, bé Emily, đi đến trước Lầu Năm Góc. Sau đó, ông đặt Emily xuống, gởi cho một người trong đám đông bạn bè đồng chí hướng vây quanh, tự đổ dầu lên người và châm lửa.</p>
<p style="text-align: justify">Trong cuốn hồi ký của mình, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ (1961-1968) Robert McNamara đã thú nhận: <em>&#8220;Cái chết của Morrison không chỉ là bi kịch cho gia đình anh ta mà còn cả cho tôi và nước Mỹ. Đó là một tiếng kêu gào chống lại những giết chóc đang hủy hoại cuộc đời của những người Mỹ và người Việt.&#8221;</em></p>
<p style="text-align: justify">Trong phong bì để lại cho người vợ trước khi tự thiêu, Norman Morrison viết:</p>
<blockquote>
<p style="text-align: justify"><em>&#8220;Anne yêu quý, đừng chỉ trích anh. Đã nhiều tuần, thậm chí nhiều tháng, anh chỉ cầu nguyện được thấy điều anh phải làm. Sáng nay, thật tình cờ anh đã thấy nó, rõ ràng như điều anh biết vào đêm thứ sáu, tháng 8/1955 rằng em sẽ trở thành vợ anh&#8230;. Hãy hiểu rằng anh yêu các con, nhưng phải hành động vì những đứa trẻ trong ngôi làng của vị linh mục&#8221;.</em></p>
</blockquote>
<p style="text-align: justify">Vợ của Morrison và hai người con gái đã tới Việt Nam vào năm 1999 và họ đã gặp nhà thơ Tố Hữu, người đã sáng tác bài thơ <em>&#8220;Emily, con ơi&#8221;</em> nổi tiếng.</p>
<p style="text-align: justify">Ba tuần sau khi ông Morrison hy sinh, bạn bè của ông đã tổ chức một lễ tưởng niệm. John Roemer, một trong những bạn đồng hành của Morrison đã lý giải về hành động tự thiêu của bạn mình: <strong><em>&#8220;Trong một xã hội mà mọi thứ đều bình thường khi con người thả bom xuống mục tiêu chính là đồng loại của mình…. Đối với Morrison thì như thế là không bình thường và thông điệp của anh ấy là kêu gọi hãy dừng lại&#8221;.</em></strong></p>
<p style="text-align: justify">Ngay sau sự kiện lịch sử đó, nhà thơ Tố Hữu đã sáng tác bài thơ<em> &#8220;Ê mi ly con ơi&#8221;</em> nổi tiếng, để tưởng nhớ ông Morrison và tưởng niệm sự kiện này:</p>
<blockquote>
<p style="text-align: justify"><em>Ê mi ly con ơi!</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Ê mi-ly, con đi cùng cha</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Sau khôn lớn con thuộc đường, khỏi lạc&#8230;</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>- Đi đâu cha?</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>- Ra bờ sông Pô-tô-mác</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>- Xem gì cha?</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Không con ơi, chỉ có Lầu ngũ giác.</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Ôi con tôi, đôi mắt tròn xoe</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Ôi con tôi, mái tóc vàng hoe</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Đừng có hỏi cha nhiều con nhé!</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Cha bế con đi, tối con về với mẹ&#8230;</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Oa-sinh-tơn</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Buổi hoàng hôn</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Ôi những linh hồn</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Còn, mất</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Hãy cháy lên, cháy lên Sự thật!</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Giôn-xơn!</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Tội ác bay chồng chất</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Cả nhân loại căm hờn</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Con quỷ vàng trên mặt đất.</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Mày không thể mượn nước son</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Của Thiên Chúa, và màu vàng của Phật!</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Mác Na-ma-ra</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Mày trốn đâu? Giữa bãi tha ma</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Của toà nhà năm góc</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Mỗi góc, một châu.</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Mày vẫn chui đầu</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Trong lửa nóng</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Như đà điểu rúc đầu trong cát bỏng.</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Hãy nhìn đây!</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Nhìn ta phút này!</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Ôi không chỉ là ta với con gái nhỏ trong tay</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Ta là Hôm nay</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Và con ta, Ê-mi-ly ơi, con là mãi mãi!</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Ta đứng dậy,</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Với trái tim vĩ đại</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Của trăm triệu con người</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Nước Mỹ.</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Để đốt sáng đến chân trời</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Một ngọn đèn</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Công lý.</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Hỡi tất cả chúng bay, một bầy ma quỷ</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Nhân danh ai?</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Bay mang những B 52</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Những na-pan, hơi độc</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Từ toà Bạch Ốc</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Từ đảo Guy-am</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Đến Việt Nam</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Để ám sát hoà bình và tự do dân tộc</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Để đốt những nhà thương, trường học</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Giết những con người chỉ biết yêu thương</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Giết những trẻ em chỉ biết đi trường</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Giết những đồng xanh bốn mùa hoa lá</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Và giết cả những dòng sông của thơ ca nhạc hoạ!</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Nhân danh ai?</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Bay chôn tuổi thanh xuân của chúng ta trong những quan tài</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Ôi những người con trai khoẻ đẹp</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Có thể biến thiên nhiên thành điện, thép</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Cho con người hạnh phúc hôm nay!</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Nhân danh ai?</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Bay đưa ta đến những rừng dày</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Những hố chông, những đồng lầy kháng chiến</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Những làng phố đã trở nên pháo đài ẩn hiện</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Những ngày đêm đất chuyển trời rung&#8230;</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Ôi Việt Nam, xứ sở lạ lùng</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Đến em thơ cũng hoá thành những anh hùng</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Đến ong dại cũng luyện thành chiến sĩ</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Và hoa trái cũng biến thành vũ khí!</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Hãy chết đi, chết đi</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Tất cả chúng bay, một bầy ma quỷ!</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Và xin nghe, nước Mỹ ta ơi!</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Tiếng thương đau, tiếng căm giận đời đời</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Của một người con. Của một con người thế kỷ</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Ê-mi-ly, con ơi!</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Trời sắp tối rồi&#8230;</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Cha không bế con về được nữa!</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Khi đã sáng bùng lên ngọn lửa</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Đêm nay mẹ đến tìm con</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Con sẽ ôm lấy mẹ mà hôn</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Cho cha nhé</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Và con sẽ nói giùm với mẹ:</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Cha đi vui, xin mẹ đừng buồn!</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Oa-sinh-tơn</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Buổi hoàng hôn</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Còn mất?</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Đã đến phút lòng ta sáng nhất</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Ta đốt thân ta</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Cho ngọn lửa chói loà</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Sự thật.</em></p>
<p style="text-align: justify"><strong><em>Tố Hữu</em></strong></p>
</blockquote>
<div id="attachment_161681" class="wp-caption aligncenter" style="width: 560px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/Anna-Morrison-Welsh.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161681" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/Anna-Morrison-Welsh.jpg" alt="Bà Anna Morrison Welsh trong chuyến thăm Việt Nam nhân dịp lễ kỷ niệm ngày giải phóng miền Nam tháng 4 năm 1999." width="550" height="402" /></a><p class="wp-caption-text">Bà Anna Morrison Welsh trong chuyến thăm Việt Nam nhân dịp lễ kỷ niệm ngày giải phóng miền Nam tháng 4 năm 1999.</p></div>
<p style="text-align: justify">Khi hay tin về vụ tự thiêu của ông Morrison, Bác Hồ đã gởi lời chia buồn tới bà Anna Morrison Welsh, vợ của Norman Morrison. Còn đối với Emily, mãi đến năm 15 tuổi, lần đầu tiên cô mới được đọc bài thơ của nhà thơ Tố Hữu. Trong bài thơ trả lời &#8220;Gửi ngài Tố Hữu&#8221;, cô đã nói cảm giác của mình lần đầu tiên được tiếp xúc với bài thơ Tố Hữu viết về người cha:</p>
<blockquote>
<p style="text-align: justify"><em>“Khi tôi mười lăm tuổi</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Một người bạn nói</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Có một bài thơ</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Về tôi.</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Một tuần sau lá thư đến</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Bằng đường bưu điện</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Tôi những muốn mở nó ngay</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Nhưng rồi kiềm chế mình</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Tôi đã chạy ra ngoài</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Ðến dưới gốc một cây thông lớn</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Ngồi một mình trên cỏ</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Và khi cảm thấy thật bình yên</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Mới mở thư ra.</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Ngay khi đọc những dòng chữ đầu tiên</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Tôi đã khóc…”.</em></p>
</blockquote>
<p style="text-align: justify">Cô bày tỏ lòng biết ơn nhà thơ Tố Hữu vì nhờ ông mà nhiều người Mỹ biết được ý nghĩa sự hy sinh của cha cô. Và trong buổi gặp mặt với nhà thơ Tố Hữu, chính Emily đã đọc bài thơ do mình sáng tác. Sau khi nghe Emily đọc bài thơ, nhà thơ Tố Hữu đã cảm động đứng dậy ôm cô vào lòng. Rồi nhà thơ Tố Hữu đọc tặng khách một bài thơ mà ông mới sáng tác nói về cái chết, sự hy sinh và dâng hiến, vừa là tâm sự riêng của tác giả (lúc này nhà thơ đã già yếu), đồng thời cũng gần gũi với câu chuyện về ngọn lửa Morrison:</p>
<blockquote>
<p style="text-align: justify"><em>&#8220;Xin tạm biệt bạn đời yêu quý nhất</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Còn mấy vần thơ, một nắm tro</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Thơ gửi bạn đường, tro gửi đất</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Sống là cho và chết cũng là cho&#8221;.</em></p>
</blockquote>
<p style="text-align: justify">Mặc dù hơn ba năm sau khi tiếp gia đình bà Morrison thì nhà thơ Tố Hữu mới từ trần (tháng 12/2002), nhưng bài thơ ông đọc tặng khách cũng là tác phẩm cuối cùng trong sự nghiệp sáng tác thi ca của ông.</p>
<div id="attachment_161682" class="wp-caption aligncenter" style="width: 590px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/Morrison_on_the_Sun.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161682" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/Morrison_on_the_Sun.jpg" alt="Tờ báo The Sun tại Baltimore, Maryland đưa tin sự kiện Morrison tự thiêu" width="580" height="326" /></a><p class="wp-caption-text">Tờ báo The Sun tại Baltimore, Maryland đưa tin sự kiện Morrison tự thiêu</p></div>
<div id="attachment_161683" class="wp-caption aligncenter" style="width: 590px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/vietnam.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161683" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/vietnam.jpg" alt="Một diễu hành nhỏ ở Philadelphia, Pennsylvania (26/3/1966). Người diễu hành trưng biểu ngữ đòi quyền tự quyết cho Việt Nam và rút quân đội về." width="580" height="416" /></a><p class="wp-caption-text">Một diễu hành nhỏ ở Philadelphia, Pennsylvania (26/3/1966). Người diễu hành trưng biểu ngữ đòi quyền tự quyết cho Việt Nam và rút quân đội về.</p></div>
<p style="text-align: justify">Ngày 15/11/1969, bốn năm sau đó, một cuộc tuần hành khoảng 250 ngàn người nổ ra ở đại lộ số 5 trung tâm New York, chỉ cách Quảng trường Thời đại (Times Square) vài dãy phố. Cùng lúc là hàng loạt các cuộc xuống đường ở nhiều thành phố lớn tại cả bờ Đông và bờ Tây nước Mỹ.</p>
<p style="text-align: justify">Cuộc biểu tình này vượt tầm kiểm soát của chính quyền Mỹ. Các quan chức Mỹ hỏi nhau: chuyện gì đang xảy ra và tại sao? Trước đó, người Mỹ chỉ nghe về cuộc chiến tranh Việt Nam qua loa tuyên truyền của chính quyền Mỹ. Nhưng cho đến cuộc tấn công mùa xuân 1968, báo chí Mỹ, đặc biệt là truyền hình Mỹ đã truyền tải hình ảnh cuộc chiến Việt Nam đến tận từng gia đình người Mỹ. Người Mỹ nhìn thấy tận mắt binh lính họ châm lửa đốt nhà dân thường, bắn chết người vô tội, những em bé bị bom napalm bốc cháy, tòa đại sứ Mỹ bị đánh úp, binh lính Mỹ kéo lê xác đồng đội….</p>
<div id="attachment_161684" class="wp-caption aligncenter" style="width: 590px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/saigon-puppet.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161684" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/saigon-puppet.jpg" alt="Người Mỹ châm biếm &quot;con rối Sài Gòn&quot; trong một cuộc xuống đường diễu hành phản chiến." width="580" height="411" /></a><p class="wp-caption-text">Người Mỹ châm biếm &quot;con rối Sài Gòn&quot; trong một cuộc xuống đường diễu hành phản chiến.</p></div>
<p style="text-align: justify">Phong trào phản chiến bước sang một bước ngoặt mới khi cuộc biểu tình ôn hòa của sinh viên Đại học Tiểu bang Kent (bang Ohio) ngày 4/5/1970 đã bị Vệ binh quốc gia Mỹ xả súng vào. Kết quả là 4 sinh viên bị bắn chết và 9 người khác bị thương.</p>
<p style="text-align: justify">Vụ xả súng Đại học Tiểu bang Kent đã gây sốc toàn nước Mỹ. Hàng trăm thành phố nổi dậy, có thể nói cả một thế hệ thanh niên và trung niên, đặc biệt cộng đồng người gốc Phi và người gốc Mỹ Latinh, đã tham gia phong trào phản chiến. Đó thật sự là cuộc nội chiến ngay trong lòng nước Mỹ. Có thể nói cuộc chiến đấu ngoan cường của dân tộc Việt Nam đã làm rung động lương tri của nhân dân thế giới và nhất là nhân dân Mỹ, do đó dư luận thế giới thời đó đã gọi Việt Nam là<em> &#8220;lương tâm của thời đại&#8221;.</em></p>
<div id="attachment_161685" class="wp-caption aligncenter" style="width: 590px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/bieu-tinh-phan-chien.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161685" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/bieu-tinh-phan-chien.jpg" alt="Biểu tình phản đối chiến tranh ở thủ đô Washington, D.C. (1967)." width="580" height="390" /></a><p class="wp-caption-text">Biểu tình phản đối chiến tranh ở thủ đô Washington, D.C. (1967).</p></div>
<div id="attachment_161696" class="wp-caption aligncenter" style="width: 590px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/phan-chien-tai-anh.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161696" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/phan-chien-tai-anh.jpg" alt="Cảnh sát trấn áp những người biểu tình giương cờ Mặt Trận ủng hộ Việt Nam ở London, Anh (1968)." width="580" height="373" /></a><p class="wp-caption-text">Cảnh sát trấn áp những người biểu tình giương cờ Mặt Trận ủng hộ Việt Nam ở London, Anh (1968).</p></div>
<div id="attachment_161697" class="wp-caption aligncenter" style="width: 590px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/phan-chien-newyork.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161697" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/phan-chien-newyork.jpg" alt="Người biểu tình phản đối chiến tranh Việt Nam tuần hành xuống đường 81 ở Thành phố New York ngày 27/4 năm 1968." width="580" height="384" /></a><p class="wp-caption-text">Người biểu tình phản đối chiến tranh Việt Nam tuần hành xuống đường 81 ở Thành phố New York ngày 27/4 năm 1968.</p></div>
<h4 style="text-align: justify"><strong>2. Biểu tượng Martin Luther King</strong></h4>
<p style="text-align: justify">Ngày 4/4/1967, giữa lúc bom đạn và chất độc hóa học của Mỹ trút xuống Việt Nam, một người Mỹ gốc Phi tuyên bố trước công chúng ở New York: <em>&#8220;Tôi nói với tư cách một người anh em của những người Việt Nam nghèo khổ&#8221;</em> và kêu gọi:<em> &#8220;Để chuộc lại những tội lỗi và sai lầm của chúng ta ở Việt Nam, chúng ta phải chủ động chấm dứt cuộc chiến tranh bi thảm này&#8221;.</em> Người đó là mục sư Martin Luther King, Jr., là một nhà tranh đấu cho dân quyền và nhân quyền ở Mỹ. Ông không những nổi danh ở Mỹ mà còn trên thế giới. Ông là một thủ lĩnh nổi tiếng của phong trào đấu tranh đòi quyền công dân, bình đẳng chủng tộc cho người da màu, da đen ở Mỹ.</p>
<p style="text-align: justify">Ngoài ra, ông còn là người kiên quyết phản đối cuộc chiến tại Việt Nam và hoạt động nhiệt tình cho nền hòa bình của Việt Nam. Các trường học công lập của Mỹ ngày nay chỉ chủ yếu dạy về nỗ lực đòi quyền bình đẳng cho người da màu, da đen của Martin Luther King, Jr., tránh né quan điểm của ông về Chiến tranh Việt Nam và các hoạt động phản chiến của ông, nhiều trường hoàn toàn lờ đi không nhắc đến những chuyện này.</p>
<p style="text-align: justify">Đúng một năm sau, ngày 4/4/1968, ông đã hy sinh trong cuộc đấu tranh đó. Ông bị ám sát ở Memphis, Tennessee và đến nay<em> &#8220;vẫn chưa tìm ra được hung thủ chủ mưu&#8221;, &#8220;chưa thể điều tra được&#8221;.</em> Hồ sơ FBI về vụ án này đã bị xếp xó từ rất lâu. Từ đó về sau Martin Luther King, Jr. đã trở nên một biểu tượng nổi tiếng trong lòng dân Mỹ, nhất là người Mỹ da màu, người Mỹ gốc Phi, đến độ sau này trong các ngày lễ chính thức hàng năm ở Mỹ có một <em>&#8220;ngày Martin Luther King&#8221;.</em></p>
<div id="attachment_161699" class="wp-caption aligncenter" style="width: 560px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/linh-da-mau.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161699" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/linh-da-mau.jpg" alt="Một trong những thanh niên da màu ở Mỹ bị đem tới chiến trường Việt Nam" width="550" height="826" /></a><p class="wp-caption-text">Một trong những thanh niên da màu ở Mỹ bị đem tới chiến trường Việt Nam</p></div>
<div id="attachment_161700" class="wp-caption aligncenter" style="width: 560px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/black_vietnam_protest.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161700" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/black_vietnam_protest.jpg" alt="Người da đen biểu tình chống Chiến tranh Việt Nam, với biểu ngữ: &quot;Chưa có người Việt Nam nào gọi chúng tôi là 'mọi' (như cách gọi từ nhiều người da trắng ở Mỹ).&quot;" width="550" height="385" /></a><p class="wp-caption-text">Người da đen biểu tình chống Chiến tranh Việt Nam, với biểu ngữ: &quot;Chưa có người Việt Nam nào gọi chúng tôi là &#039;mọi&#039; (như cách gọi từ nhiều người da trắng ở Mỹ).&quot;</p></div>
<p style="text-align: justify">Từ giữa năm 1965, Martin Luther King, Jr. đã yêu cầu:<em> &#8220;Cuộc chiến tranh ở Việt Nam phải được chấm dứt. Phải giải quyết nó bằng thương lượng&#8221;.</em> Ông phản đối Chiến tranh Việt Nam trước hết vì nó trực tiếp gây hại cho cuộc sống của những người Mỹ gốc Phi. Để có tiền cho chi phí chiến tranh, chính phủ Hoa Kỳ đã cắt giảm nhiều chương trình an sinh xã hội cho dân nghèo, đa số là người da màu. <strong>Ông và các cộng sự tính toán ra và cho biết chính phủ Mỹ đã tiêu tốn 322.000 USD để giết 1 người du kích ở Việt Nam, nhưng chỉ chi 53 USD cho 1 đầu người trong cuộc chiến chống nghèo đói ở Mỹ.</strong></p>
<p style="text-align: justify">Nạn phân biệt chủng tộc, kỳ thị màu da còn thể hiện trong chiến tranh. Người da đen chỉ có 13% dân số Mỹ, nhưng chiếm đến 28% số lính Mỹ bị đẩy ra chiến trường. Chỉ có 2% sĩ quan là người da đen. Và tỷ lệ lính da đen chết trận tại Việt Nam luôn cao hơn người da trắng một cách bất bình thường.</p>
<p style="text-align: justify">Martin Luther King, Jr. đã vạch trần chiêu bài &#8220;bảo vệ tự do&#8221; giả hiệu mà chính phủ Mỹ thường dùng làm danh nghĩa khai chiến và cưỡng bách thanh niên sang Việt Nam. Ông nói: <strong><em>&#8220;Thanh niên da đen bị gửi đi xa 8.000 dặm để bảo vệ tự do cho Đông Nam Á, cái tự do mà họ không tìm thấy ở tây nam Georgia hay ở đông Harlem&#8221;.</em></strong></p>
<div id="attachment_161706" class="wp-caption aligncenter" style="width: 590px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/martin-luther-king-jr.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161706" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/martin-luther-king-jr.jpg" alt="Mục sư Martin Luther King, Jr." width="580" height="439" /></a><p class="wp-caption-text">Mục sư Martin Luther King, Jr.</p></div>
<p style="text-align: justify">Còn một lý do khác, rộng lớn hơn và cao thượng hơn, thôi thúc ông phản đối cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam đã được ông trình bày trong bài nói chuyện tại New York ngày 4/4/1967. Ông rà soát lại chính sách của Mỹ đối với Việt Nam trong 2 thập niên của 4 đời tổng thống: Truman, Eisenhower, Kennedy và Johnson và ông nhận ra rằng trong khi chính phủ Mỹ luôn tự nhận là &#8220;lãnh đạo của thế giới tự do&#8221; thì chính Mỹ đã đứng về phía thực dân Pháp để chống lại khát vọng tự do của dân tộc Việt Nam. Sau đây là một vài trích đoạn phát biểu của ông trong bài nói chuyện ngày 4/4/1967:</p>
<blockquote>
<p style="text-align: justify"><em>Năm 1945, người dân Việt Nam tuyên bố nền độc lập của mình…. Họ được Hồ Chí Minh lãnh đạo. Dù họ đã trích dẫn bản Tuyên ngôn độc lập của Mỹ vào bản Tuyên ngôn độc lập của họ, chúng ta vẫn từ chối công nhận họ. Thay vào đó, chúng ta quyết định ủng hộ Pháp trong việc tái chiếm thuộc địa cũ…. Với quyết định bi thảm đó, chúng ta đã bác bỏ một chính phủ cách mạng đang đi tìm quyền tự quyết, một chính phủ được thành lập bởi chính những lực lượng bản xứ, trong đó bao gồm một số người cộng sản….</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Trong 9 năm sau đó, chúng ta khước từ quyền độc lập của người dân Việt Nam. Trong suốt 9 năm đó, chúng ta ủng hộ mạnh mẽ Pháp trong nỗ lực đặt lại ách thực dân lên nước Việt Nam. Trước khi chiến tranh kết thúc, chúng ta trang trải 80% chi phí chiến tranh cho Pháp.</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Ngay trước khi thua ở Điện Biên Phủ, Pháp đã bắt đầu tuyệt vọng về hành động liều lĩnh của họ, nhưng chúng ta thì không. Chúng ta khuyến khích họ bằng cách viện trợ một khối lượng khổng lồ tài chính và tiếp liệu quân sự để họ tiếp tục cuộc chiến ngay cả khi họ đã mất hết ý chí. Chẳng bao lâu, chúng ta hầu như trả toàn bộ chi phí cho ý đồ tái chiếm thuộc địa này.</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Pháp bị người dân Việt Nam đánh bại, phải rút quân về nước. Nhưng Mỹ lại nhảy vào miền Nam, ngăn cản cuộc tổng tuyển cử mà chắc chắn sẽ đưa Hồ Chí Minh lên nắm quyền trong một nước Việt Nam thống nhất. Để giữ miền Nam trong quỹ đạo của Mỹ, chúng ta đã chọn thủ tướng Diệm, một trong những nhà độc tài xấu xa nhất thời hiện đại. Người dân miền Nam phải sống 9 năm dưới sự cai trị tàn bạo của Diệm. Khi Diệm bị lật đổ, lẽ ra họ có thể sống hạnh phúc, nhưng rồi một loạt chế độ độc tài quân phiệt dường như chẳng có gì thay đổi.</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Trước phong trào nổi dậy của người dân miền Nam, chúng ta gửi thêm quân lính sang để ủng hộ những chính phủ thối nát một cách kinh dị, lạc lõng, không được dân chúng ủng hộ…. Người dân miền Nam chết dần chết mòn dưới bom đạn của chúng ta và xem chúng ta như kẻ thù đích thực của họ…. Chúng ta buộc họ phải rời khỏi xóm làng của cha ông họ để bị dồn vào những trại tập trung…. Chúng ta rải chất độc xuống các nguồn nước của họ, tàn phá cả triệu mẫu Anh mùa màng của họ…. Chúng ta thử nghiệm những vũ khí mới nhất của chúng ta lên trên họ, giống như bọn Đức Quốc Xã thử nghiệm những loại thuốc mới và những cách tra tấn mới trong các trại tập trung của chúng ở châu Âu…. Chúng ta tàn phá 2 định chế thiết thân nhất của họ là gia đình và xóm làng….</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Ở miền Bắc, bom của chúng ta đang liên tục ném xuống đất đai, còn mìn của chúng ta đang gây nguy hiểm cho các đường sông, đường biển…. Cho đến nay, chúng ta có thể đã giết chết một triệu người Việt Nam, phần lớn là trẻ em&#8230;.</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Chúng ta phải thừa nhận rằng chúng ta đã sai lầm ngay từ đầu cuộc phiêu lưu của chúng ta ở Việt Nam, rằng chúng ta đã gây tổn hại cho cuộc sống của người dân Việt Nam&#8230;.</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Bằng cách này hay bằng cách khác, sự điên rồ này phải dừng lại. Chúng ta phải chấm dứt ngay bây giờ…. <strong>Chúng ta đã chủ động gây ra cuộc chiến tranh này, chúng ta phải chủ động chấm dứt nó</strong>…. Để chuộc lại những tội lỗi và sai lầm của chúng ta ở Việt Nam, chúng ta phải chủ động chấm dứt cuộc chiến tranh bi thảm này.</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Sau khi chiến tranh kết thúc, chúng ta phải bồi thường cho những thiệt hại mà chúng ta đã gây ra. Đường lối của Mỹ ở Việt Nam là đáng thẹn và phi nghĩa nên chúng ta phải nói…. Chúng ta không thể im lặng…. Chúng ta phải tiếp tục lên tiếng nếu quốc gia của chúng ta cứ khăng khăng đi theo con đường sai lầm ở Việt Nam. Chúng ta phải sẵn sàng gắn hành động với lời nói bằng cách tìm ra mọi cách phản đối…. Chúng ta phải chuyển từ sự do dự trong quá khứ sang hành động. Chúng ta phải tìm ra những cách nói mới cho hoà bình ở Việt Nam cũng như cho công lý trong thế giới đang phát triển&#8230;. Phải làm cho thanh niên Mỹ thấy rõ vai trò của Hoa Kỳ trong việc gây ra chiến tranh ở Việt Nam và yêu cầu họ chọn cách từ chối nhập ngũ vì lý do tín ngưỡng (conscientious objection).&#8221;</em></p>
</blockquote>
<p style="text-align: justify">Ông Martin Luther King, Jr. đưa ra các đề nghị cụ thể:</p>
<ul>
<li>Chấm dứt mọi cuộc ném bom xuống miền Bắc và miền Nam Việt Nam.</li>
<li>Đơn phương tuyên bố ngưng bắn với hy vọng hành động đó sẽ tạo ra một bầu không khí thuận lợi cho thương thuyết.</li>
<li>Có ngay những bước đi ngay lập tức để tránh những cuộc chiến tranh khác ở Đông Nam Á bằng cách cắt bỏ việc xây dựng quân sự của chúng ta ở Thái Lan và sự can thiệp của chúng ta ở Lào.</li>
<li>Thừa nhận một cách thực tế rằng Mặt trận Dân tộc Giải phóng được sự ủng hộ to lớn ở miền Nam Việt Nam và vì vậy phải đóng một vai trò trong các cuộc thương thuyết và trong chính phủ tương lai ở Việt Nam.</li>
<li>Ấn định ngày đưa toàn bộ lính nước ngoài ra khỏi Việt Nam phù hợp với hiệp định Genève 1954.</li>
</ul>
<p style="text-align: justify">Bài phát biểu của Martin Luther King, Jr. đã làm tỉnh ngộ rất nhiều người Mỹ, vốn lúc đó vẫn còn biết rất ít về quá trình xâm lược của Mỹ vào Việt Nam. Ông trở thành một trong những nhân vật đứng đầu sáng giá nhất của phong trào chống chiến tranh ở Hoa Kỳ. Uy tín của ông ngày càng tăng. Ông đã kêu gọi được hơn 10 vạn người xuống đường biểu tình ôn hòa phản đối chiến tranh ở New York ngày 15/4/1967, bất chấp bị những chiếc dùi cui giáng xuống, bị bắt giữ, hành hung, trấn áp.</p>
<div id="attachment_161708" class="wp-caption aligncenter" style="width: 590px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/Martin_Luther_King_Jr_St_Paul_Campus_U_MN.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161708" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/Martin_Luther_King_Jr_St_Paul_Campus_U_MN.jpg" alt="Martin Luther King, Jr. tại trường đại học Minnesota, kêu gọi sinh viên Mỹ phản đối Chiến tranh Việt Nam, chống bắt lính, chống nhập ngũ." width="580" height="397" /></a><p class="wp-caption-text">Martin Luther King, Jr. tại trường đại học Minnesota, kêu gọi sinh viên Mỹ phản đối Chiến tranh Việt Nam, chống bắt lính, chống nhập ngũ.</p></div>
<p style="text-align: justify">Để tạo cớ đàn áp những người phản đối chiến tranh, chính phủ Mỹ cho CIA tạo dựng những hồ sơ giả và tung tin<em> &#8220;phong trào đòi hòa bình được khởi động từ Hà Nội&#8221;,</em> những người chống đối chiến tranh, chống quân dịch là<em> &#8220;những người cộng sản hành động theo lệnh của các chính phủ nước ngoài&#8221;,</em> với những ám chỉ rằng đó là Việt Nam và Liên Xô.</p>
<p style="text-align: justify">FBI cho người nghe lén điện thoại của ông, đặt máy ghi âm trong phòng khách sạn của ông. Cho tay sai khủng bố tinh thần ông bằng thư rác hay những cú điện thoại nặc danh chửi bới thô tục, quấy rối, dọa bắt cóc, thậm chí cả dọa giết. Nhà của ông ở Montgomery bị đặt bom. Cảnh sát địa phương <em>&#8220;không điều tra ra là ai làm&#8221;.</em> Ông thừa biết những đòn bẩn nhưng vẫn không chùn bước và tiếp tục hoạt động hăng say trong phong trào phản chiến.</p>
<p style="text-align: justify">Ngày 28/3/1968, ông tổ chức một cuộc biểu tình đòi hoà bình, yêu cầu chính phủ Mỹ rút quân ở thành phố Memphis, bang Tennessee. Chính quyền phái hơn 4 ngàn Vệ binh quốc gia đến trấn áp, xua đuổi, đánh đập, bạo hành, bắt phải giải tán và bắt giữ 276 người. Ba ngày sau, 31/3/1968, quyết không khuất phục, ông có mặt ở thủ đô Washington tiếp tục nói chuyện tại Nhà thờ Quốc gia.</p>
<p style="text-align: justify">Vào cuối năm ấy sẽ có cuộc bầu cử tổng thống mới ở Mỹ. Chiến tranh Việt Nam đang là đề tài mang tính thời sự nóng bỏng trong suốt thời gian vận động tranh cử. Những ngôn luận, chính kiến, quan điểm phản đối chiến tranh, phản biện chính sách quân sự, đối ngoại của chính phủ Mỹ có thể khiến Johnson mất đi nhiều phiếu. Vì vậy Martin Luther King, Jr. càng nhận được nhiều thơ từ, cú phone nặc danh dọa giết, dọa ám sát. Trong bài phát biểu ngày 3/4/1968, ông nói trước đám đông: <em>&#8220;Cũng như bất kỳ ai, tôi cũng muốn sống thọ. Sống thọ là điều quan trọng, nhưng hiện nay tôi không quan tâm đến điều đó nữa&#8221;.</em></p>
<p style="text-align: justify">Ngay ngày hôm sau, 4/4/1968, buổi chiều, khi ông đang đứng ở lầu 2 của khách sạn Lorraine ở Memphis, ông bị bắn. Hơn một tiếng đồng hồ sau, ông trút hơi thở cuối cùng tại bệnh viện Saint Joseph.</p>
<p style="text-align: justify">Hay tin ông từ trần, nhân dân Hoa Kỳ và những người yêu hòa bình trên thế giới vô cùng thương tiếc. Ngày 9/4/1968, hơn 30 vạn người đau buồn tiễn đưa linh cữu của ông ra nghĩa trang. Kẻ chủ mưu cho đến nay chưa bao giờ được đưa ra ánh sáng. Sự kiện này trở thành một trong nhiều sự kiện ám sát gây tiếng vang ở Mỹ mà đến nay vẫn<em> &#8220;không tìm ra chủ mưu&#8221;.</em></p>
<div id="attachment_161712" class="wp-caption aligncenter" style="width: 590px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/Martin_Luther_King_Jr._and_Lyndon_Johnson.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161712" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/Martin_Luther_King_Jr._and_Lyndon_Johnson.jpg" alt="Tổng thống Lyndon B. Johnson đã bất lực trong việc thuyết phục, ép buộc Martin Luther King, Jr. từ bỏ cuộc đấu tranh bất bạo động của ông." width="580" height="391" /></a><p class="wp-caption-text">Tổng thống Lyndon B. Johnson đã bất lực trong việc thuyết phục, ép buộc Martin Luther King, Jr. từ bỏ cuộc đấu tranh bất bạo động của ông.</p></div>
<p style="text-align: justify">Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ và quân đội xâm lược Mỹ, nhân dân thế giới đã đứng về phía nhân dân Việt Nam, bao gồm cả nhân dân Mỹ, chống lại sự gây chiến của Mỹ và các tội ác họ gây ra ở Việt Nam, trong đó có mục sư Martin Luther King, Jr.. Ngày nay ở Việt Nam, có một con đường khang trang ở quận 7 TPHCM mang tên Martin Luther King, Jr..</p>
<p style="text-align: justify"></p>
<p style="text-align: justify"><em>Bài nói chuyện &#8220;Tại sao tôi phản đối cuộc chiến tranh ở Việt Nam&#8221; của Martin Luther King, Jr., nói về cuộc đấu tranh chống lại &#8220;Tam ác&#8221; (phân biệt chủng tộc, bóc lột kinh tế, phiêu lưu quân sự). Bài nói chuyện diễn ra ở Nhà thờ Ebenezer Baptist ngày 30 tháng 4 năm 1967.</em></p>
<p style="text-align: center"><strong>oOo</strong></p>
<p style="text-align: justify">Norman Morrison và Martin Luther King, Jr. đã trở thành một trong các biểu tượng cao đẹp nhất tiêu biểu cho sự ủng hộ to lớn của người dân Mỹ và bạn bè thế giới, đã góp phần làm nên thắng lợi cho công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Việt Nam.</p>
<p style="text-align: justify">Đó là một trong những nguyên nhân vì sao trong cuộc thảo luận tại phiên họp thứ 22 của Liên Hiệp Quốc năm 1967 chỉ có các đại diện của 7 quốc gia ủng hộ chính sách của Mỹ tại Việt Nam. Trong khi đại diện của 44 quốc gia đã phản đối gay gắt chính sách của Mỹ, trong đó có 5 đồng minh của Mỹ trong khối NATO.</p>
<p style="text-align: justify">Phong trào chống chiến tranh Việt Nam ở Mỹ đặc biệt bùng nổ lan rộng sau tác động to lớn của chiến dịch tổng tấn công và nổi dậy Mậu Thân 1968. Cuộc tổng tiến công và khởi nghĩa này đã biến hậu phương nước Mỹ trở thành một mớ hỗn loạn rối ren.</p>
<p style="text-align: justify">Phong trào phản chiến sau sự kiện Tết Mậu Thân đã bùng nổ thành một cao trào phản chiến lịch sử, gần như biến thành một cuộc nội chiến đẫm máu. Máu đã đổ khắp nơi trong lòng nước Mỹ. Dân Mỹ kéo xuống đường biểu tình để rồi bị đàn áp, bắt bớ, đánh đập, bắn giết.</p>
<p style="text-align: justify">Từ đó, quân đội Mỹ ngày càng rệu rã, xuống tinh thần, suy thoái đấu chí và bắt đầu gia tăng những hiện tượng nghiện ma túy, hút chích, sĩ quan bắn chết lính, lính bắn chết sĩ quan rồi đào ngũ bỏ trốn.</p>
<p style="text-align: justify">Sự kiện Mậu Thân 1968 đã lột trần sự thật tình hình chiến cuộc và tình trạng quân lính Mỹ ở miền Nam Việt Nam, làm cho tất cả người Mỹ, từ công chúng đến quan chức đến quân đội ở Mỹ đều nhìn nhận ra điều mà lâu nay họ không đủ dũng khí để chấp nhận: Trên 55 vạn quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam, báo cáo bao nhiêu chiến thắng, tốn bao nhiêu nguồn lực, nhân mạng, tiền của đổ vào chiến trường miền Nam Việt Nam, rốt cuộc không giữ nổi cả Tòa đại sứ. Một cảm giác tuyệt vọng, chán chường, cảm thấy tất cả đều vô ích, công cốc hết. Người dân Mỹ thì cảm thấy bị phản bội bởi các tuyên truyền tâm lý chiến dối trá. Nhiều quan chức Mỹ cảm thấy bị lừa dối bởi những báo cáo lạc quan giả tạo.</p>
<div id="attachment_161722" class="wp-caption aligncenter" style="width: 560px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/nguoi-dan-thu-do-hoa-ky.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161722" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/nguoi-dan-thu-do-hoa-ky.jpg" alt="Khoảng 50.000 người dân thủ đô Hoa Kỳ biểu tình phản chiến tại Washington DC." width="550" height="366" /></a><p class="wp-caption-text">Khoảng 50.000 người dân thủ đô Hoa Kỳ biểu tình phản chiến tại Washington DC.</p></div>
<div id="attachment_161723" class="wp-caption aligncenter" style="width: 590px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/moskva.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161723" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/moskva.jpg" alt="Ngày 8/2/1965, người dân thủ đô Moskva (Liên Xô) hội họp ủng hộ nhân dân Việt Nam" width="580" height="228" /></a><p class="wp-caption-text">Ngày 8/2/1965, người dân thủ đô Moskva (Liên Xô) hội họp ủng hộ nhân dân Việt Nam</p></div>
<div id="attachment_161724" class="wp-caption aligncenter" style="width: 590px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/janefonda.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161724" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/janefonda.jpg" alt="Jane Fonda (có biệt danh Hanoi Jane ), nữ tài tử nổi tiếng của Hollywood" width="580" height="385" /></a><p class="wp-caption-text">Jane Fonda (có biệt danh Hanoi Jane), nữ tài tử nổi tiếng của Hollywood</p></div>
<p style="text-align: justify"><em>Jane Fonda (có biệt danh Hanoi Jane), nữ tài tử nổi tiếng của Hollywood, là một trong những người đi đầu trong giới văn nghệ sĩ Mỹ phản kháng Chiến tranh Việt Nam. Bà từng có mặt tại Hà Nội để chia sẻ nỗi đau với người dân thủ đô trong giai đoạn Không quân Hoa Kỳ đang ném bom dữ dội vào thành phố, vào nhà dân. Trong khi Hoa Kỳ đang ném bom, Jane Fonda đã một mình đến miền Bắc và lưu trú tại khách sạn Thống Nhất, Hà Nội (nay là khách sạn Sofitel Legend Metropole). Trong hai tuần ở VN, bà đã đi thăm bệnh viện Bạch Mai, khu Trương Định, nhà trẻ 20/10, thăm lính phòng không&#8230;.</em></p>
<div id="attachment_161727" class="wp-caption aligncenter" style="width: 590px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/daniel-ellsberg.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161727" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/daniel-ellsberg.jpg" alt="Daniel Ellsberg ra tòa vì tiết lộ hồ sơ Lầu Năm Góc về Chiến tranh Việt Nam" width="580" height="447" /></a><p class="wp-caption-text">Daniel Ellsberg ra tòa vì tiết lộ hồ sơ Lầu Năm Góc về Chiến tranh Việt Nam</p></div>
<p style="text-align: justify"><em>Daniel Ellsberg ra tòa vì tiết lộ hồ sơ Lầu Năm Góc về Chiến tranh Việt Nam cho Thời báo New York, sau đó được tha bổng dưới áp lực của dư luận trong nước và quốc tế&#8230;. Năm 1971, ông đã gây chấn động nước Mỹ khi bạch hóa bản sao chụp 7 ngàn trang hồ sơ Lầu Năm Góc về kế hoạch leo thang chiến tranh Việt Nam, tạo ra một làn sóng phản đối chiến tranh mạnh mẽ chưa từng có trong lịch sử Hoa Kỳ. Năm 2002, ông hoàn thành quyển hồi ký Secrets: A Memoir of Vietnam and the Pentagon papers (Những bí mật về chiến tranh Việt Nam &#8211; Hồi ức về Việt Nam và hồ sơ Lầu Năm Góc), từng là best-seller năm 2002. Ngay từ khi phát hành, cuốn hồi ký của Ellsberg đã gây xôn xao dư luận. Cuốn sách kể lại cuộc hành trình đi tìm sự thật của chính tác giả và những âm mưu của tổng thống Nixon cùng Lầu Năm Góc đối với cuộc chiến tại Việt Nam. Trong tác phẩm, Ellsberg đã mô tả lại quá trình nhận thức của ông ta về Chiến tranh Việt Nam như sau: <strong>&#8220;Thoạt đầu tôi nghĩ đó chỉ là một vấn đề, tiếp đến là một sự bế tắc, nhưng rồi sau đó là một thảm họa về đạo đức và chính trị và cuối cùng trở thành một tội ác&#8221;.</strong> Daniel Ellsberg từng nhận bằng tiến sĩ Kinh tế Đại học Harvard năm 1962. Sau đó, ông làm việc cho cố vấn đặc biệt của Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng và Đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn. Năm 1967, Ellsberg trở về Mỹ và được phân công làm việc trong nhóm sĩ quan, chuyên viên Lầu Năm Góc chuyên nghiên cứu, phân tích chiến lược tối mật về hoạch định chính sách đối với Việt Nam của Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara. Tháng 3/2006, Ellsberg trở lại thăm Việt Nam và được trao kỷ niệm chương &#8220;Vì hòa bình hữu nghị giữa các dân tộc&#8221;, tôn vinh những cống hiến của ông dành cho Việt Nam.</em></p>
<div id="attachment_161728" class="wp-caption aligncenter" style="width: 590px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/quan-nhan-bieu-tinh.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161728" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/quan-nhan-bieu-tinh.jpg" alt="Các quân nhân Chiến tranh Việt Nam của Mỹ biểu tình phản đối cuộc chiến, với biểu ngữ: &quot;Chúng tôi sẽ không đánh thêm một cuộc chiến của người giàu.&quot;" width="580" height="388" /></a><p class="wp-caption-text">Các quân nhân Chiến tranh Việt Nam của Mỹ biểu tình phản đối cuộc chiến, với biểu ngữ: &quot;Chúng tôi sẽ không đánh thêm một cuộc chiến của người giàu.&quot;</p></div>
<div id="attachment_161730" class="wp-caption aligncenter" style="width: 590px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/tran-ap-bieu-tinh.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161730" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/tran-ap-bieu-tinh.jpg" alt="Cảnh sát dùng dùi cui trấn áp nhiều cuộc biểu tình phản đối chiến tranh." width="580" height="377" /></a><p class="wp-caption-text">Cảnh sát dùng dùi cui trấn áp nhiều cuộc biểu tình phản đối chiến tranh.</p></div>
<div id="attachment_161735" class="wp-caption aligncenter" style="width: 560px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/du-kich-linh-my.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161735" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/du-kich-linh-my.jpg" alt="Hình bên trái: Cô du kích Nguyễn Thị Kim Lai áp giải người lính Mỹ William Robinson. Hình bên phải: Sự hội ngộ của hai người khi hòa bình lập lại." width="550" height="550" /></a><p class="wp-caption-text">Hình bên trái: Cô du kích Nguyễn Thị Kim Lai áp giải người lính Mỹ William Robinson. Hình bên phải: Sự hội ngộ của hai người khi hòa bình lập lại.</p></div>
<blockquote><p><strong><span style="text-decoration: underline">Xem tiếp</span>: <a href="/toan-canh-cuoc-doi-dau-lich-su-viet-my-1954-1975-ky-cuoi.html" rel="nofollow" title="Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt – Mỹ 1954-1975 (Kỳ cuối)"  target="_blank">Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt – Mỹ 1954-1975 (Kỳ cuối)</a></strong></p></blockquote>
<p>(Blogger Thiếu Long)</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://trandaiquang.net/toan-canh-cuoc-doi-dau-lich-su-viet-my-1954-1975-ky-6.html/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt – Mỹ 1954-1975 (Kỳ 5)</title>
		<link>http://trandaiquang.net/toan-canh-cuoc-doi-dau-lich-su-viet-my-1954-1975-ky-5.html</link>
		<comments>http://trandaiquang.net/toan-canh-cuoc-doi-dau-lich-su-viet-my-1954-1975-ky-5.html#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 25 May 2013 06:05:02 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Ban Biên Tập</dc:creator>
				<category><![CDATA[An ninh - Quốc phòng]]></category>
		<category><![CDATA[16 tấn vàng]]></category>
		<category><![CDATA[16 tan vang cua nguyen van thieu]]></category>
		<category><![CDATA[16 tan vang nguyen van thieu]]></category>
		<category><![CDATA[16 tan vang vnch]]></category>
		<category><![CDATA[Blogger Thiếu Long]]></category>
		<category><![CDATA[Chiến thắng 30/4]]></category>
		<category><![CDATA[Chiến tranh hóa học]]></category>
		<category><![CDATA[Chiến tranh khí tượng]]></category>
		<category><![CDATA[chiến tranh tâm lý]]></category>
		<category><![CDATA[Chiến tranh Việt Mỹ]]></category>
		<category><![CDATA[chien tranh viet nam]]></category>
		<category><![CDATA[Chiến tranh điện tử]]></category>
		<category><![CDATA[CIA buôn lậu ma túy]]></category>
		<category><![CDATA[Diệt Cộng]]></category>
		<category><![CDATA[Emily con ơi]]></category>
		<category><![CDATA[Free-fire-zone]]></category>
		<category><![CDATA[Giải phóng miền Nam]]></category>
		<category><![CDATA[Hàng rào điện tử McNamara]]></category>
		<category><![CDATA[Hanoi Jane]]></category>
		<category><![CDATA[Hiệp định Genève]]></category>
		<category><![CDATA[Hiệp định Geneve 1954]]></category>
		<category><![CDATA[hòn ngọc Viễn Đông]]></category>
		<category><![CDATA[Jane Fonda]]></category>
		<category><![CDATA[Martin Luther King]]></category>
		<category><![CDATA[Mật vụ Phượng Hoàng]]></category>
		<category><![CDATA[Ngộ nhận chiến tranh Việt Nam]]></category>
		<category><![CDATA[Ngô Đình Nhu]]></category>
		<category><![CDATA[Nguyễn Cao Kỳ]]></category>
		<category><![CDATA[Nguyễn Văn Thiệu]]></category>
		<category><![CDATA[Norman Morrison]]></category>
		<category><![CDATA[Phân biệt chủng tộc]]></category>
		<category><![CDATA[Phản chiến]]></category>
		<category><![CDATA[Phong trào phản chiến]]></category>
		<category><![CDATA[Sự kiện Mậu Thân 1968]]></category>
		<category><![CDATA[Sự thật chiến tranh Việt Nam]]></category>
		<category><![CDATA[Tết Mậu Thân]]></category>
		<category><![CDATA[Tết Mậu Thân 1968]]></category>
		<category><![CDATA[tham sat my lai]]></category>
		<category><![CDATA[thảm sát Sơn Mỹ]]></category>
		<category><![CDATA[Tố Cộng]]></category>
		<category><![CDATA[Trần Lệ Xuân]]></category>
		<category><![CDATA[Viện trợ chiến tranh]]></category>
		<category><![CDATA[Việt Nam cộng hòa]]></category>
		<category><![CDATA[Vo Nguyen Giap]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://trandaiquang.net/toan-canh-cuoc-doi-dau-lich-su-viet-my-1954-1975-ky-5.html</guid>
		<description><![CDATA[Những tội ác chiến tranh được các nhân chứng và nhà nghiên cứu độc lập ghi nhận Xem lại các kỳ trước: Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt &#8211; Mỹ 1954-1975 (Kỳ 1) Toàn cảnh cuộc đối đầu [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<h3 style="text-align: justify"><strong>Những tội ác chiến tranh được các nhân chứng và nhà nghiên cứu độc lập ghi nhận</strong></h3>
<blockquote><p><strong>Xem lại các kỳ trước:</strong></p>
<ul>
<li><strong><a href="/toan-canh-cuoc-doi-dau-lich-su-viet-my-1954-1975-ky-1.html" rel="nofollow" title="Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt – Mỹ 1954-1975 (Kỳ 1)"  target="_blank">Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt &#8211; Mỹ 1954-1975 (Kỳ 1)</a></strong></li>
<li><strong><a href="/toan-canh-cuoc-doi-dau-lich-su-viet-my-1954-1975-ky-2.html" rel="nofollow" title="Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt – Mỹ 1954-1975 (Kỳ 2)"  target="_blank">Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt &#8211; Mỹ 1954-1975 (Kỳ 2)</a></strong></li>
<li><strong><a href="/toan-canh-cuoc-doi-dau-lich-su-viet-my-1954-1975-ky-3.html" rel="nofollow" title="Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt – Mỹ 1954-1975 (Kỳ 3)"  target="_blank">Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt &#8211; Mỹ 1954-1975 (Kỳ 3)</a></strong></li>
<li><strong><a href="/toan-canh-cuoc-doi-dau-lich-su-viet-my-1954-1975-ky-4.html" rel="nofollow" title="Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt - Mỹ 1954-1975 (Kỳ 4)"  target="_blank">Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt &#8211; Mỹ 1954-1975 (Kỳ 4)</a></strong></li>
</ul>
</blockquote>
<p style="text-align: justify">Chiến tranh tâm lý của chính phủ Mỹ thường đi kèm với các tội ác chiến tranh của quân đội Mỹ để khủng bố tâm lý đối thủ, và đe dọa, gieo rắc sợ hãi cho nhân dân bản xứ, để họ không còn dám tiếp tế, giúp đỡ, nuôi giấu lực lượng kháng chiến bản địa.</p>
<p style="text-align: justify">Để tạo điều kiện dễ dàng, thuận tiện, tự do nhất cho sự hoạt động quân sự của binh sĩ Mỹ, chính phủ Hoa Kỳ đã tự đặt ra luật Free-fire-zone (vùng bắn phá tự do) trên đất Việt Nam. Theo Dictionary of the Vietnam War (Tự điển thuật ngữ về Chiến tranh Việt Nam) do cựu quân nhân Chiến tranh Việt Nam, nhà nghiên cứu lịch sử quân sự Hoa Kỳ James S. Olson biên soạn, Greenwood Press xuất bản năm 1988, và Crimes of War: What the Public Should Know (Tội ác chiến tranh: Những gì công chúng nên biết) của nhà nghiên cứu sử học Lewis M. Simmons, do nhóm Roy Gutman xuất bản năm 1999, thì Vùng bắn phá tự do là vùng được bắn vào mục tiêu (bao gồm khu vực, người và vật) mà không cần được cho phép trước.</p>
<p style="text-align: justify">Tài liệu hướng dẫn chiến trường (field manual) FM 6-20 định nghĩa như sau: <em>&#8220;Một khu vực được xác định cụ thể mà tại đó, mọi hệ thống vũ khí đều có thể bắn mà không cần chỉ thị của các sở chỉ huy.</em></p>
<p style="text-align: justify">Sở chỉ huy MACV tại Việt Nam đã dựa vào giả định rằng tất cả các lực lượng bạn đã rời khỏi khu vực, và đã thiết lập một chính sách xác định các vùng bắn phá tự do là các khu vực mà:</p>
<ul>
<li>Bất cứ ai xuất hiện quanh đó đều được coi là một binh sĩ đối phương.</li>
<li>Binh lính được phép bắn bất cứ ai di động sau giờ giới nghiêm mà không cần phải chắc chắn rằng người này có thái độ thù nghịch.</li>
</ul>
<p style="text-align: justify">Chính sách này đã vi phạm hiệp định Genève 1954, hiến chương Liên Hiệp Quốc và luật pháp quốc tế, cũng như những quy định liên quan đến tội ác chiến tranh và nhân quyền.</p>
<p style="text-align: justify">Đế quốc Mỹ đã huy động vào cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam một khối lượng bom đạn, vật chất kỹ thuật chưa từng có trên một địa bàn hẹp; sử dụng mọi loại vũ khí hiện đại và dã man nhất; đưa số quân Mỹ vào miền Nam lên đến gần 60 vạn quân. Chính quyền Mỹ đã thực hiện mọi chiến lược, chiến thuật về chính trị, quân sự, ngoại giao, dùng những thủ đoạn chiến tranh tàn bạo nhất; bao vây phong tỏa, khủng bố toàn diện, tàn phá kinh tế, triệt hạ làng xóm, nông thôn và đô thị, tiêu diệt con người, hủy diệt môi trường thiên nhiên&#8230;. Nhà Trắng và Lầu Năm Góc đã đưa ra các chiến lược gia, các chuyên gia chính trị &#8211; quân sự &#8211; khoa học, các tướng lĩnh bậc nhất của họ để đấu trí với Việt Nam.</p>
<p style="text-align: justify">Số bom đạn quân đội Mỹ dùng để tàn phá Việt Nam là 7.822.547 tấn, gần gấp 3 lần bom Mỹ dùng trong Thế chiến II, hơn gấp 10 lần chiến tranh Triều Tiên, gấp 47 lần số bom Mỹ ném xuống Nhật Bản.</p>
<p style="text-align: justify">Trong cuộc chiến tranh xâm lược này, Mỹ đã sử dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật quân sự mới nhất. Các vũ khí và phương tiện chiến tranh tiên tiến nhất luôn được đem vào sử dụng trên chiến trường Việt Nam (trừ vũ khí hạt nhân), như máy bay B-52, máy bay F-111, các loại trinh sát cơ động cao hỏa lực mạnh, các loại phương tiện gây nhiễu và chống nhiễu, các loại bom chùm, bom bi, bom napan, chất độc hóa học&#8230;.</p>
<p style="text-align: justify">Trong lịch sử chiến tranh thế giới, chưa bao giờ và chưa có nơi nào trên trái đất đã diễn ra một cuộc tàn sát, hủy diệt kéo dài với quy mô rộng lớn trên một diện tích nhỏ hẹp như cuộc chiến tranh Mỹ đã tiến hành ở Việt Nam. Với việc sử dụng không hạn chế bom đạn, chất độc hoá học và những vũ khí hủy diệt hàng loạt, Mỹ đã đánh vào đời sống vật chất, tinh thần, văn hóa của dân tộc Việt Nam, tiêu diệt môi trường sống của sinh vật trên đất nước Việt Nam.</p>
<div id="attachment_161648" class="wp-caption aligncenter" style="width: 590px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/democracy1.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161648" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/democracy1.jpg" alt="Biếm họa của họa sĩ Carlos Latuff về Chiến tranh Việt Nam, tác phẩm được hoàn thành năm 2000. Dịch câu trên hình: &quot;Chúng tôi ở đây để đem đến dân chủ, hãy đọc lại lời tôi: Dân chủ&quot;." width="580" height="381" /></a><p class="wp-caption-text">Biếm họa của họa sĩ Carlos Latuff về Chiến tranh Việt Nam, tác phẩm được hoàn thành năm 2000. Dịch câu trên hình: &quot;Chúng tôi ở đây để đem đến dân chủ, hãy đọc lại lời tôi: Dân chủ&quot;.</p></div>
<p style="text-align: justify">Những hung thủ sát nhân trong vụ thảm sát làng Sơn Mỹ chấn động thế giới thời bấy giờ, sau này trả lời phỏng vấn đài phát thanh BBC 4 thì họ (trung úy William Calley, tướng William Peers v.v.) cũng phải thú nhận họ chỉ là những kẻ thừa hành, họ nhận lệnh cấp trên để gây ra những tội ác chiến tranh đó, và tuyên bố xin lỗi các nạn nhân và nhân dân Việt Nam.</p>
<p style="text-align: justify">Theo bài báo My Lai: A Question of Orders (Mỹ Lai: Một câu hỏi về những quân lệnh) trên tuần báo Time, đại tá Oran Henderson đã ra lệnh phải &#8220;xóa sạch chúng&#8221;. Trong tác phẩm nghiên cứu My Lai: An American Tragedy (Mỹ Lai: Bi kịch của người Mỹ) của cựu quân nhân Chiến tranh Việt Nam, giáo sư luật học tại Đại học Missouri-Kansas City, luật sư William George Eckhardt, xuất bản năm 2000, tóm tắt lại bản báo cáo của tướng William Peers, trong đó ghi rõ chi tiết Trung tá Frank A. Barker ra lệnh cho các chỉ huy của Tiểu đoàn 1 đốt trụi làng, giết sạch con người và gà, chó, đốt sạch các kho lương thực và đầu độc các giếng nước.</p>
<p style="text-align: justify">Một số binh sĩ của Đại đội Charlie sau này đã khai rằng Đại úy Ernest Medina ra lệnh cho họ giết tất cả những người dân &#8220;khả nghi&#8221;, bao gồm cả phụ nữ, trẻ em, người già v.v. họ đốt làng, phá hủy lương thực và đầu độc giếng nước.</p>
<p style="text-align: justify">Trả lời phỏng vấn BBC News Anh ngữ tháng 3 năm 2008, sĩ quan Celina Dunlop tự thú: <em>&#8220;Đa phần lính trong đơn vị tôi không coi người Việt Nam là loài người.&#8221;.</em> Trong Thư viện Tội ác chiến tranh ở Mỹ, có tài liệu<em> &#8220;Into the Dark: The My Lai Massacre&#8221;</em> (Vùi sâu vào trong bóng tối: Cuộc thảm sát Mỹ Lai), trong đó có nói về một phi công trực thăng bay trên khu vực làng Mỹ Lai (Sơn Mỹ) đã thốt: <em>&#8220;Quang cảnh phía dưới trông như một biển máu! Cái quái gì đang xảy ra thế?&#8221;.</em></p>
<p style="text-align: justify">Lúc đầu, Mỹ che giấu thông tin và bịa đặt ra là mình chỉ giết cộng sản, giết lính, giết Việt Cộng, bịa ra những<em> &#8220;cuộc đọ súng ác liệt&#8221;, &#8220;trận đánh đẫm máu&#8221;</em>, nhưng sau đó một số người lính tham dự đã không kín miệng, sự việc rò rỉ, báo chí và phóng viên chiến trường khắp thế giới vào cuộc, dư luận quốc tế gây sức ép quyết liệt, nên quân đội Mỹ đành phải đưa 1 kẻ thủ ác &#8220;ra tòa&#8221;. Nhưng chỉ xử qua loa chiếu lệ.</p>
<p style="text-align: justify">Chỉ huy Lữ đoàn Henderson là Trung úy William Calley, ông ta là người duy nhất phải ra tòa án binh từ trước tới nay sau hàng trăm vụ thảm sát lớn nhỏ do quân đội Mỹ và các đồng minh, chư hầu gây ra ở Việt Nam, như các cuộc thảm sát Sơn Mỹ, Thạnh Phong, Bình Hòa, Định Tường, Kiến Hòa, Gò Công, Hà My, Thái Bình, Phong Nhi và Phong Nhất v.v..</p>
<p style="text-align: justify">Ban đầu Calley &#8220;ra tòa&#8221; không phải về tội giết dân thường, hay tội ra lệnh tàn sát thường dân, mà về tội<em> “che giấu thông tin”</em>, sau đó được tuyên bố trắng án. 10 tháng sau, do dư luận Việt Nam, Hoa Kỳ và quốc tế làm lớn, áp lực chính trị căng thẳng, Mỹ đành phải lôi Trung úy Calley ra tòa và bị tuyên án<em> “chung thân”</em> nhưng chỉ 2 ngày sau đó Tổng thống Nixon đã ra lệnh thả Calley. Cuối cùng Calley chỉ phải chịu án 4 tháng ngồi tù quân sự tại bang Kansas. Theo tài liệu<em> “War Crimes: Brutality, Genocide, Terror, and the Struggle for Justice” (“Tội ác chiến tranh: Khủng khiếp, Diệt chủng, Khủng bố, và sự tranh đấu vì công lý”)</em> của tác giả Neier, NXB Random House, trong thời gian này hắn vẫn được bạn gái thăm nuôi và quan hệ tình dục không hạn chế trong nhà giam, được cung cấp thực phẩm đặc sản, nước giải khát, và bao cao su. Dư luận Mỹ và thế giới thì chỉ xem hắn là con Tốt thí, là con dê tế thần, là kẻ giơ đầu chịu báng.</p>
<p style="text-align: justify">Theo ghi âm radio của nhà báo quân đội Mỹ Robert Hodierne, một cựu binh Chiến tranh Việt Nam, người dẫn chương trình đài phát thanh BBC 4 Anh ngữ khi phỏng vấn một loạt những cựu binh Mỹ từng tham gia vụ tàn sát, hãm hiếp, tắm máu ở Sơn Mỹ đã kết luận: <em>“Những vụ thảm sát này không chỉ đơn thuần là những hành vi của nhóm lính bất trị gây ra. Nó là những cuộc bắn giết được lên kế hoạch cẩn thận từ trước, với mục tiêu giết càng nhiều càng tốt, hủy diệt càng nhiều càng tốt”.</em></p>
<p style="text-align: justify">Trong các tài liệu, hồ sơ của quân đội Mỹ, Lữ đoàn 173, có báo cáo chi tiết về 142 vụ bắt giữ và ngược đãi người dân, trong đó có 127 trường hợp liên quan đến Lữ đoàn này. Tuy nhiên các giới chức lãnh đạo của Hoa Kỳ đã cố gắng bưng bít thông tin. Tờ Los Angeles Times đã đăng bài viết tố cáo các chỉ huy quân đội Mỹ đã che giấu tội ác của cấp dưới trong chiến tranh ở Việt Nam và phần lớn các quân nhân phạm tội đã không bị trừng phạt, hoặc chỉ bị phạt rất nhẹ, trong khi người tố cáo lại bị trả thù, ngược đãi, trù dập.</p>
<p style="text-align: justify">Một số thông tin khác liên quan đến tội ác quân đội Hoa Kỳ khi giải mật hồ sơ những vụ thảm sát tại Việt Nam, theo báo Los Angeles Times, Baltimore Sun ở Mỹ, Cơ quan Lưu trữ Hồ sơ và Tài liệu Quốc gia (NARA) của Hoa Kỳ đã có hơn 9.000 trang tư liệu, hồ sơ cung cấp chi tiết về 320 cuộc thảm sát lớn nhỏ đã được cơ quan điều tra của quân đội Mỹ xác minh và có những bằng chứng cụ thể. Nhưng trong 320 cuộc thảm sát này lại không có Thảm sát làng Sơn Mỹ, cuộc thảm sát ghê rợn và chấn động quốc tế, cho thấy còn rất nhiều tội ác thảm sát, trong đó có những vụ thảm sát tương đương mức độ như thảm sát Sơn Mỹ của quân đội Mỹ tại VN mà chưa được ghi nhận đầy đủ, những hồ sơ còn nhiều thiếu sót, còn nhiều cuộc thảm sát không được đưa vào hồ sơ, hoặc bị che giấu bưng bít thành công.</p>
<p style="text-align: justify">Các vụ việc còn lưu giữ trong hồ sơ NARA có thể kể đến: <em>Bảy vụ thảm sát lớn từ 1967 đến 1971, mỗi vụ có ít nhất 137 người dân bị giết, 78 vụ thảm sát khác vào những người dân thường, mỗi vụ có ít nhất 57 người bị giết và 56 người bị gây thương tật, 15 vụ hãm hiếp hàng loạt, hiếp trước giết sau, 141 vụ tra tấn vô nhân đạo vào thường dân hoặc tù binh chiến tranh.</em></p>
<p style="text-align: justify">Ngoài 320 trận thảm sát được xác minh, hồ sơ còn có những tài liệu có liên quan đến hơn 500 hành động tàn ác mà các điều tra viên chưa thể chứng minh hoặc không được quan tâm đến.</p>
<div id="attachment_161654" class="wp-caption aligncenter" style="width: 590px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/johnkerryvietnam1971.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161654" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/johnkerryvietnam1971.jpg" alt="Nhiều người đã điều trần trước Quốc hội Mỹ nói lên các lý do vì sao phải kết thúc Chiến tranh Việt Nam. Ông John Kerry là một trong những người đó." width="580" height="385" /></a><p class="wp-caption-text">Nhiều người đã điều trần trước Quốc hội Mỹ nói lên các lý do vì sao phải kết thúc Chiến tranh Việt Nam. Ông John Kerry là một trong những người đó.</p></div>
<p style="text-align: justify">Trung úy John Kerry (từng là ứng cử viên Tổng thống, hiện là Bộ trưởng Ngoại giao) đã làm chứng trước Ủy Ban Ngoại Giao của Thượng Viện Mỹ năm 1971 như sau:</p>
<p style="text-align: justify"><em>“Tôi muốn nói rằng vài tháng trước ở Detroit chúng tôi có một cuộc điều tra trong đó có 150 quân nhân đã được giải ngũ trong danh dự đã làm chứng cho những tội ác chiến tranh phạm ở Đông Nam Á. Họ nói những câu chuyện của thời đó là chính họ đã hãm hiếp, cắt tai, chặt đầu, kẹp giây điện từ những bộ máy truyền tin vào nhưng cơ quan sinh dục rồi quay điện, chặt chân tay, làm nổ tan xác, bắn chơi vào các thường dân, triệt hạ cả làng theo kiểu của Genghis Khan (Thành Cát Tư Hãn), bắn trâu bò, chó, làm trò chơi, đầu độc các kho lương thực và hầu như là tàn phá toàn diện miền quê Nam Việt Nam, ngoài sự tàn phá thông thường của chiến tranh và sự tàn phá thông thường và đặc biệt của những cuộc bỏ bom trên đất nước này”.</em></p>
<div id="attachment_161658" class="wp-caption aligncenter" style="width: 590px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/linh-du-dot-nha.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161658" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/linh-du-dot-nha.jpg" alt="Một người lính Dù đốt nhà dân chỉ khoảng 20 cây số phía tây Sài Gòn (4/1/1966), trong một chiến dịch &quot;tiêu thổ&quot; mà Mỹ-ngụy hay áp dụng." width="580" height="401" /></a><p class="wp-caption-text">Một người lính Dù đốt nhà dân chỉ khoảng 20 cây số phía tây Sài Gòn (4/1/1966), trong một chiến dịch &quot;tiêu thổ&quot; mà Mỹ-ngụy hay áp dụng.</p></div>
<p style="text-align: justify">Những gì mà nhiều nhân chứng sống, trong đó có các nạn nhân của Mỹ, các phóng viên chiến trường ngoại quốc, những hung thủ lính Mỹ kể lại v.v. đều phù hợp với những gì Bác Hồ và cả những cựu chiến binh Nam Bộ nói về tội ác của giặc Mỹ ở nhiều khu vực dân cư miền Nam Việt Nam: <em>&#8220;Chúng dùng chính sách 3 sạch: Giết sạch, phá sạch, đốt sạch.&#8221;</em></p>
<p style="text-align: justify">Sách <em>&#8220;Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về tội ác chiến tranh xâm lược&#8221;</em> do Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh và Nhà xuất bản Trẻ ấn hành vào năm 2003, sưu tầm và ghi lại lời chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu mạnh mẽ với ký giả quốc tế như sau:</p>
<blockquote>
<p style="text-align: justify"><em>&#8220;Vì Mỹ đất nước chúng tôi bị chia cắt làm đôi, đồng bào miền Nam chúng tôi đang lâm vào tình cảnh đau thương, nước sôi lửa bỏng. Vì Mỹ mà miền Nam Việt Nam có những tòa án phát xít, những luật lệ bạo ngược, những máy chém lưu động giết người khắp thành thị và thôn quê, có những trại giam khổng lồ, giam cầm và tra tấn hàng chục vạn người, giết chết hàng vạn người yêu hòa bình và yêu Tổ quốc. Vì Mỹ mà có những sư đoàn, binh lính với máy bay, xe tăng và đại pháo Mỹ đi càn quét liên miên, giết hại thường dân, đốt phá làng mạc. Nói tóm lại vì Mỹ mà miền Nam Việt Nam biến thành địa ngục trần gian&#8221;.</em></p>
</blockquote>
<div id="attachment_161663" class="wp-caption aligncenter" style="width: 590px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/Phap-truong-Cat2.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161663" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/Phap-truong-Cat2.jpg" alt="Pháp trường giữa trung tâm Sài Gòn, nơi xảy ra những vụ hành quyết công khai trước sự chứng kiến của công chúng, nhằm mục đích đe dọa." width="580" height="381" /></a><p class="wp-caption-text">Pháp trường giữa trung tâm Sài Gòn, nơi xảy ra những vụ hành quyết công khai trước sự chứng kiến của công chúng, nhằm mục đích đe dọa.</p></div>
<div id="attachment_161664" class="wp-caption aligncenter" style="width: 560px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/thap-10-tang.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161664" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/thap-10-tang.jpg" alt="Tháp Mười Tầng giữa trung tâm Đồng Tháp Mười, được Mỹ-Diệm sử dụng làm đài quan sát, giám sát người dân Đồng Tháp." width="550" height="830" /></a><p class="wp-caption-text">Tháp Mười Tầng giữa trung tâm Đồng Tháp Mười, được Mỹ-Diệm sử dụng làm đài quan sát, giám sát người dân Đồng Tháp.</p></div>
<p style="text-align: justify">Trước đây, năm 2005, nhà sử học, nhà báo Nick Turse đã hoàn thành quyển sách Kill Anything That Moves: U.S. War Crimes And Atrocities In Vietnam, 1965-1973 (Giết bất cứ thứ gì chuyển động: Tội ác chiến tranh tàn bạo của Mỹ ở Việt Nam, 1965-1973), Đại học Columbia xuất bản. Sách được đánh giá cao trên văn đàn một thời. Sách đã đoạt giải thưởng Ridenhour của National Press Club vào năm 2009</p>
<p style="text-align: justify">Lần này, sách Kill Anything That Moves: The Real American War in Vietnam (Giết bất cứ thứ gì chuyển động: Cuộc chiến thật sự của Mỹ ở Việt Nam) của cùng một tác giả, do Metropolitan Books mới xuất bản ngày 15 tháng 1, 2013, đã một lần nữa, đưa ra những hình ảnh chân thật đến trần trụi của quân đội Mỹ đối với người dân và đất nước Việt Nam. Tác phẩm này là một công trình phát triển từ quyển sách của tác giả năm 2005.</p>
<p style="text-align: justify">Trong tác phẩm mới, ông Nick Turse đã trích dẫn những hồ sơ của chính phủ Mỹ và Lầu Năm Góc cho thấy trong cuộc chiến ở Việt Nam, chính phủ Mỹ đã thi hành cuộc tàn phá hàng loạt vào con người và tài sản một cách có hệ thống trong suốt cuộc chiến.</p>
<p style="text-align: justify">Tiếp theo một số bài báo trước đây của Nick Turse, cuốn sách đưa ra những tư liệu cho thấy, những vụ hiếp dâm hàng loạt, tra tấn, xẻo thịt dân thường Việt Nam, trong đó có vụ thảm sát làng Mỹ Lai năm 1968 khiến hơn 500 dân thường bị giết, không phải là những hành động lầm lạc trong những giờ phút thiếu suy nghĩ, mà là chính sách cố sát và khủng bố có hệ thống trong cỗ máy chiến tranh của Mỹ. Các cuộc thảm sát tương tự vụ ở làng Mỹ Lai không phải sự cố bất thường, mà là một trong các &#8220;chiến dịch&#8221; thực hiện thường xuyên theo chính sách của Mỹ.</p>
<p style="text-align: justify">Theo tài liệu mà Turse có được, Mỹ Lai là một chiến dịch, không phải sự lầm lạc. Không chỉ nghiên cứu qua hồ sơ, tài liệu, Turse còn phỏng vấn rất nhiều tướng lĩnh và quan chức dân sự cao cấp, các nhà điều tra tội phạm, cựu chiến binh từng chứng kiến hoặc phạm tội ác. Turse cũng đã đến Việt Nam nhiều lần để phỏng vấn những người sống sót từ các cuộc thảm sát đó.</p>
<p style="text-align: justify">Quyển sách ngay từ chương 1 đã tường thuật từ thời kỳ quân đội Mỹ được huấn luyện ở các quân trường tại Mỹ (Fort Benning, Camp Lejeune, bang Georgia v.v.) thì tinh thần kỳ thị chủng tộc (như của tướng Douglas MacArthur) đã được nhồi nhét tối đa để giúp người tân binh Mỹ có thể giết kẻ thù &#8211; người Việt Nam &#8211; mà không hối tiếc hay ân hận. Cựu chiến binh Wayne Smith khi trả lời phỏng vấn của tác giả, đã kể lại rằng các huấn luyện viên quân đội không bao giờ gọi người Việt Nam là &#8220;Vietnamese&#8221;, thay vào đó là những chữ tiếng lóng hạ cấp như &#8220;dinks&#8221;, &#8220;gooks&#8221;, &#8220;slopes&#8221;, &#8220;slants&#8221;, những từ ngữ không còn mang ý nghĩa tượng trưng cho con người văn minh, hay thậm chí là những con người bình thường, mà là những ngôn từ miệt thị, lăng mạ, hàm ý khinh khi người Việt như một giống dân hạ đẳng, &#8220;man di mọi rợ&#8221;.</p>
<p style="text-align: justify">Trong vụ thảm sát Triệu Ái, khi trung úy Maynard quăng lựu đạn xuống hầm một căn nhà trong làng Triệu Ái, trung úy Bailey cho biết có con nít trong hầm ấy. Nhưng trung úy Maynard trả lời: <em>&#8220;Kệ mẹ nó, rồi tụi đó lớn lên thì cũng trở thành Việt Cộng thôi.&#8221;</em></p>
<p style="text-align: justify">Tiếp theo một số tác phẩm trước đây của ông Nick Turse, cuốn Kill Anything That Moves: The Real American War in Vietnam đã đưa ra những hồ sơ, tư liệu, dữ liệu cho thấy những vụ hủy diệt hàng loạt, dâm sát, tra tấn, cắt xẻo bộ phận cơ thể đối với các đối tượng dân thường Việt Nam từ nam đến nữ, từ bé đến già, từ cộng sản đến không cộng sản v.v. nhiều vụ <strong>không phải hành động lầm lạc trong những giây phút thiếu suy nghĩ</strong>, mà là chính sách có hệ thống trong cỗ máy chiến tranh của Mỹ thời đó. Cuộc thảm sát làng Mỹ Lai và nhiều cuộc thảm sát khác không phải là sự cố bất thường, mà là chiến dịch quân sự thực hiện theo chính sách quân sự Mỹ, nhằm khủng bố tinh thần và xóa trắng các pinkville (làng hồng), là những làng xã mà họ nghi ngờ là có giúp đỡ, tiếp tế cho quân kháng chiến. Khủng bố để răn đe &#8220;làm gương&#8221;, gieo rắc sợ hãi để người dân và các làng bên lấy đó &#8220;làm gương&#8221;, không còn dám nuôi giấu những người chống Mỹ.</p>
<p style="text-align: justify">Sau bao nhiêu phỏng vấn và tìm hiểu, ông đã cho biết: <em>&#8220;Hàng trăm báo cáo mà tôi tập hợp được cùng với hàng trăm nhân chứng tôi từng phỏng vấn ở Mỹ và Đông Nam Á cho thấy một điều rõ ràng rằng, việc giết hại dân thường &#8211; dù một cách máu lạnh như ở Mỹ Lai hay một cách bàng quan vô cảm như ở Bình Long &#8211; đều rất phổ biến, diễn ra thường xuyên, và xuất phát từ chính sách chỉ huy của Mỹ.</em></p>
<p style="text-align: justify">Đây là những lời bình tiêu biểu về quyển sách còn rất mới này của nhà báo kiêm sử gia Nick Turse, qua những lời bình của các nhà phê bình của Mỹ càng cho thấy rõ hơn các tội ác cố sát có hệ thống, theo chính sách của chính phủ Mỹ, gây ra bởi quân đội Mỹ ở Việt Nam.</p>
<p style="text-align: justify">Nhà báo Steve Weinberg bình luận trên báo Star Tribune:</p>
<p style="text-align: justify"><em>Trong cuốn sách mới, “Giết mọi thứ di động” (Mới Xuất Bản Ngày 15-1-2013, Metropolitan Books), ký giả Nick Turse đã chứng minh, sau một thập niên khảo cứu về những điều khó chấp nhận, là không quân và lục quân Mỹ đã giết thường dân ở ngoài Bắc và ở trong Nam theo một chính sách lặp đi lặp lại, ngày này qua ngày khác, tuần này qua tuần khác, tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác.</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Sự tàn sát các dân thường ở Mỹ Lai bởi lính Mỹ đã được quần chúng biết đến nhiều, nhờ phần lớn vào sự điều tra của ký giả Seymour Hersh. Nhiều độc giả tìm biết về cuộc chiến tranh Việt Nam tưởng rằng Mỹ Lai là một việc xảy ra đơn độc, phần lớn phạm phải bởi một sĩ quan trẻ tên là William Caley. Không hẳn vậy, Nick Turse đã chứng minh rằng Mỹ Lai là vụ điển hình cho nhiều vụ tàn sát như vậy, trong một số vụ những người bị tàn sát là trẻ con, người già và phụ nữ. Trước khi giết, bao giờ cũng là hãm hiếp, tra tấn nhiều cách khác nhau, mà không có một quân nhân nào bị trừng phạt&#8230;.</em></p>
<p style="text-align: justify">Học giả, nhà văn Jonathan Schell đã viết trong bài How did the Gates of Hell open in Vietnam? (Cửa địa ngục đã mở ở Việt Nam như thế nào?) trên báo Asia Times:</p>
<p style="text-align: justify"><em>Tỉ mỉ gắn kết lại với nhau từ những thông tin mới được giải mật, những hồ sơ tòa án binh, những phúc trình của Lầu Năm Góc, và những cuộc phỏng vấn trực tiếp ở Việt Nam và ở Mỹ, cũng như những tài liệu trên báo chí cùng thời và tài liệu phụ, Turse phát hiện ra những tình tiết về sự tàn phá, cố sát, thảm sát, hiếp dâm, và tra tấn mà một thời được coi như là những tội ác lẻ tẻ thật ra là chuyện thường xuyên, cộng với một luồng tàn bạo liên tục, bộc lộ, năm này qua năm khác, trên khắp đất nước đó.</em></p>
<p style="text-align: justify">Nhà văn Tim O&#8217;Brien bình luận trên trang Amazon:</p>
<p style="text-align: justify"><em>Không có cuốn sách nào mà tôi đọc trong vài thập niên làm tôi run rẩy như vậy với tư cách là một người Mỹ. Turse phanh phui ra thực chất một cuộc chiến quá ư tàn bạo hơn là những điều mà những người Mỹ ở trong nước được quyền biết. Turse vạch trần ra những chính sách chính thức khuyến khích binh sĩ Mỹ và không quân giáng sự khủng khiếp và đau khổ không thể hình dung được xuống người dân thường Việt Nam, theo đó là những sự bưng bít chính thức cũng kiên trì như Turse đã kiên trì trong nỗ lực điều tra trong cả một thập niên để chống lại những sự bưng bít này. Cuốn &#8220;Giết mọi thứ di động&#8221; là cuốn những người Mỹ phải đọc, vì những hàm ý trong đó về mức độ tàn bạo và dân thường chết chóc giáng lên họ và sự bưng bít trong những cuộc chiến gần đây của chúng ta chắc chắn sẽ xảy ra và làm chúng ta sửng sốt.</em></p>
<p style="text-align: justify">Nữ nhà báo Frances FitzGerald bình luận trên trang Amazon:</p>
<p style="text-align: justify"><em>Nick Turse đã làm hơn nhiều người khác để chứng minh, với tài liệu, điều rất hiển nhiên: Những sự tội ác tàn bạo của Mỹ ở Việt Nam không phải là lẻ tẻ và tình cờ, mà là thường xuyên xảy ra khắp nơi và là kết quả không tránh được của chính sách quân sự của Hoa Kỳ.</em></p>
<p style="text-align: justify">Nữ giáo sư sử học Đại học New York Marilyn Young bình luận trên trang Amazon:</p>
<p style="text-align: justify"><em>&#8220;Cuốn sách của Nick Turse là một tài liệu căn bản, một tường trình hùng hậu và đầy xúc động đến ngay vào vùng tim đen của cuộc chiến tranh ở Việt Nam: Sự tàn sát thường dân một cách có hệ thống, chứ không là một sơ xuất, là một thủ tục hành quân đúng tiêu chuẩn. Cho đến ngày nào bản tường trình lịch sử này được thừa nhận, chính sách này vẫn sẽ được tiếp tục dưới hình thức này hoặc hình thức khác trong những cuộc chiến mà nước Mỹ sẽ tiếp tục dính vào.&#8221;</em></p>
<p style="text-align: justify">Giáo sư sử học Đại học Massachusetts Christian Appy bình luận trên trang Amazon:</p>
<p style="text-align: justify"><em>&#8220;Từ cuộc nghiên cứu trong hơn một thập niên trong những hồ sơ mật Lầu Năm Góc và những cuộc phỏng vấn sâu rộng các cựu quân nhân Mỹ và những người Việt sống sót, lần đầu tiên Turse vạch rõ là những chính sách của Mỹ đã đưa đến kết quả là hàng triệu người dân thường vô can đã bị giết và bị thương. Với những chi tiết gây sốc, Turse vạch rõ những hệ thống mặc định của cỗ máy quân sự Mỹ đã làm cho những tội ác trong những đơn vị chính của Mỹ không thể tránh được. Cuốn &#8220;Giết Mọi Thứ Di Động&#8221; đưa chúng ta đến từ văn khố ở Washington đầy những những hồ sơ về sự dẹp bỏ các cuộc điều tra những tội ác của lính Mỹ cho tới những thôn xã ở miền quê Việt Nam mà người dân gánh chịu trong cuộc chiến, từ những trại huấn luyện lính Mỹ trong đó <strong>những người lính trẻ được dạy để thù ghét mọi người Việt</strong> cho đến các chiến dịch khát máu như chiến dịch Speedy Express mà một vị tướng, ám ảnh bởi cách đếm xác chết đã dẫn binh lính phạm phải điều mà một quân nhân tham dự gọi là <strong>“mỗi tháng một Mỹ Lai”.</strong>&#8220;</em></p>
<h3 style="text-align: justify"><strong>Một số ngộ nhận thường thấy về cuộc chiến</strong></h3>
<p style="text-align: justify">Phần này không nói tới những ngộ nhận ấu trĩ, cực đoan và có tính chất điên rồ như <em>&#8220;nội chiến Nam Bắc tương tàn&#8221;, &#8220;Mỹ không xâm lược&#8221;, &#8220;vai trò Trung &#8211; Xô với Hoa Kỳ là như nhau, ngang nhau&#8221;, &#8220;Việt Cộng kéo quân đến đâu là người dân bỏ chạy đến đó&#8221;, &#8220;Tội ác cộng sản&#8221;, &#8220;Mỹ-ngụy không ác, tại sơ ý trong chiến tranh thôi&#8221;, &#8220;chất độc da cam là vô hại&#8221;, &#8220;miền Bắc cưỡng chiếm và xâm lăng miền Nam&#8221; v.v&#8230;</em> tồn tại trong đầu óc của một bộ phận nhỏ mà nhiều người khác đã lên án. Phần này chỉ nói về những ngộ nhận thấy nhiều ở cả những người đàng hoàng tử tế.</p>
<p style="text-align: justify"><strong>Ngộ nhận:</strong> <em>Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ 2 căng thẳng, dữ dội cho quân đội Hoa Kỳ hơn Chiến tranh Việt Nam.</em></p>
<p style="text-align: justify"><strong>Thực tế:</strong> Đối với quân đội Mỹ, cuộc chiến tranh Việt Nam căng thẳng hơn Thế chiến II. Trung bình mỗi người lính bộ binh Mỹ trong chiến tranh Thái Bình Dương (thuộc Thế chiến II) tốn khoảng 40 ngày chiến đấu trong 4 năm. Nhưng trung bình mỗi người lính bộ binh Mỹ trong chiến tranh Việt Nam tốn khoảng 240 ngày chiến đấu trong 1 năm nhờ chiến thuật Trực thăng vận.</p>
<p style="text-align: justify"><strong>Ngộ nhận:</strong> <em>Hiệp định Genève 1954 quy định chia cắt đất nước Việt Nam ra thành 2 quốc gia khác biệt. Câu cửa miệng thường nghe từ một số người thiếu thông tin là: &#8220;Hiệp định Geneve chia đôi đất nước&#8221; hay &#8220;Việt Nam bị chia cắt thành 2 miền theo hiệp định Geneve&#8221;.</em></p>
<p style="text-align: justify"><strong>Thực tế:</strong> Bản thân hiệp định Genève 1954 không có điều khoản nào quy định chia cắt Việt Nam thành hai quốc gia. Hiệp định Genève 1954 chỉ công nhận giới tuyến quân sự tạm thời trong 2 năm để chờ tổng tuyển cử thống nhất đất nước, tạm chia làm 2 vùng tập trung quân sự cho quân đội hai phía Việt &#8211; Pháp tập kết, chứ không có ý nghĩa chia cắt về chính trị hay lãnh thổ.</p>
<p style="text-align: justify">Đây không phải là hiệp định chia cắt đất nước như một số người thiếu thông tin đã nhầm lẫn, mà trái lại, là hiệp định lập lại hòa bình, độc lập và thống nhất của 3 nước Đông Dương, Pháp rút quân trong 2 năm và tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam năm 1956.</p>
<p style="text-align: justify">Hiệp định Genève về Đông Dương năm 1954 có hai phần: Phần<em> &#8220;Thỏa hiệp&#8221;</em> và phần <em>&#8220;Tuyên bố Cuối cùng&#8221; (Final Declaration)</em>. Phần &#8220;Thỏa hiệp&#8221;, gồm 47 điều khoản, được ký kết giữa Henri Delteil, Quyền Tổng tư lệnh lực lượng Liên hiệp Pháp và Tạ Quang Bửu, Thứ trưởng quốc phòng VNDCCH. Phần này có những điều khoản chính như sau:</p>
<ul>
<li>Thiết lập một đường ranh giới quân sự tạm thời tại vĩ tuyến 17 (Provisional Military Demarcation Line) để quân đội hai bên rút quân về: Lực lượng Quân đội Nhân dân Việt Nam ở trên vĩ tuyến 17, lực lượng quân đội Liên hiệp Pháp (French Union), bao gồm lính Pháp và lính bản xứ ở dưới vĩ tuyến 17.</li>
<li>Sẽ có một cuộc tổng tuyển cử tự do trên toàn cõi Việt Nam vào năm 1956. Quân đội Pháp phải rời khỏi Việt Nam trong 2 năm.</li>
</ul>
<p style="text-align: justify">Bản<em> &#8220;Tuyên bố cuối cùng&#8221;</em> gồm 13 đoạn, nói đến cả sự thống nhất và độc lập của 3 nước Đông Dương, trong đó có một đoạn đáng để ý và cực kỳ quan trọng, đoạn (6) (Paragraph [6]) là như sau<em>: &#8220;Hội Nghị nhận thức rằng mục đích chính yếu của Thỏa Hiệp về Việt Nam là dàn xếp những vấn đề quân sự trên quan điểm chấm dứt những đối nghịch quân sự và rằng <strong>ĐƯỜNG RANH GIỚI QUÂN SỰ LÀ TẠM THỜI VÀ KHÔNG THỂ DIỄN GIẢI BẤT CỨ BẰNG CÁCH NÀO ĐÓ LÀ MỘT BIÊN GIỚI PHÂN ĐỊNH VỀ CHÍNH TRỊ HAY ĐẤT ĐAI.</strong> Hội Nghị bày tỏ sự tin tưởng là thi hành những điều khoản trong bản Tuyên Ngôn này và trong Thỏa Hiệp ngưng chiến sẽ tạo nên căn bản cần thiết để trong tương lai gần đạt tới một sự dàn xếp chính trị ở Việt Nam&#8221;.</em></p>
<p style="text-align: justify">Và phần đầu của đoạn (7) nguyên văn như sau:<em> &#8220;Hội Nghị tuyên cáo rằng, về Việt Nam, sự dàn xếp những vấn đề chính trị, thực hiện trên căn bản tôn trọng những nguyên tắc về nền độc lập, sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, sẽ khiến cho người dân Việt Nam được hưởng những quyền tự do căn bản, bảo đảm bởi những định chế dân chủ được thành lập như là kết quả của một cuộc tổng tuyển cử bằng phiếu bầu kín.&#8221;</em> Và cuộc tổng tuyển cử đó sẽ được tổ chức vào tháng 7 năm 1956.</p>
<p style="text-align: justify">Nói chung đây là các ý chính của hiệp ước Genève 1954:</p>
<ul>
<li>Các nước tham gia hội nghị tôn trọng quyền dân tộc cơ bản là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của 3 nước Việt Nam &#8211; Campuchia &#8211; Lào.</li>
<li>Ngừng bắn đồng thời ở Việt Nam và trên toàn chiến trường Đông Dương.</li>
<li>Sông Bến Hải, vĩ tuyến 17, được dùng làm giới tuyến quân sự tạm thời chia Việt Nam làm hai vùng tập trung quân sự. Chính quyền và quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (bao gồm cả người miền Nam) tập kết về miền Bắc; Chính quyền và quân đội Liên hiệp Pháp (bao gồm cả người miền Bắc) tập kết về miền Nam.</li>
<li>300 ngày là thời gian để chính quyền và quân đội các bên hoàn thành việc tập trung. Dân chúng được tự do đi lại giữa hai miền.</li>
<li>2 năm sau, tức ngày 20 tháng 7 năm 1956 sẽ tổ chức tổng tuyển cử tự do trong cả nước để thống nhất lại Việt Nam.</li>
</ul>
<p style="text-align: justify">Người Mỹ vốn không ký vào hiệp định Genève 1954 để tránh bị ràng buộc pháp lý, bất lợi cho việc xâm lược và chia cắt Việt Nam trong chiến lược toàn cầu của họ. Nhưng chính họ cũng đã &#8220;nói hớ&#8221; và vô tình cho thấy rằng hiệp định Genève 1954 không hề là hiệp định chia đôi Việt Nam.</p>
<p style="text-align: justify">Nhà sử học, chính trị học George McTurnan Kahin và John W. Lewis trong sách The United States in Vietnam: An analysis in depth of the history of America’s involvement in Vietnam (Hoa Kỳ ở Việt Nam: Một phân tích chuyên sâu về lịch sử can thiệp của Hoa Kỳ vào Việt Nam), do Delta Books xuất bản năm 1967, đã cho biết: <em>&#8220;Trong bản Tuyên ngôn đơn phương (Unilateral Declaration) của Hoa Kỳ về Hội nghị Genève không có chữ nào nói đến &#8220;Bắc Việt Nam&#8221; hay &#8220;Nam Việt Nam&#8221;. Tất cả những gì mà bên đại diện Mỹ nói đến là một Việt Nam&#8221;.</em></p>
<p style="text-align: justify">Những bằng chứng ở trên đã cho thấy hiệp định Genève 1954 không chia đôi đất nước, mà ngược lại chính là quy định việc thống nhất đất nước. Chính sự xâm lăng và phá hoại tổng tuyển cử thống nhất đất nước theo hiệp định Genève 1954 của Mỹ đã đưa tới sự chia đôi đất nước.</p>
<p style="text-align: justify"><strong>Ngộ nhận:</strong> <em>Sau hiệp định Paris 1973 và với sự vắng bóng của đại quân Hoa Kỳ, chính Việt Nam đã vi phạm hiệp định tấn công và dứt điểm chính quyền Sài Gòn để kết liễu chiến tranh.</em></p>
<p style="text-align: justify"><strong>Thực tế:</strong> Ý trên thoạt nghe qua bên ngoài thì thấy có vẻ hữu lý, nhưng thực tế không phải vậy. Ý định của Việt Nam là ngưng bắn để có hòa bình, dùng đòn chính trị &#8211; ngoại giao đấu tranh đòi thực hiện tổng tuyển cử để thành lập chính phủ liên hiệp 3 thành phần, trong đó Việt Nam đã có sẵn 2 quân bài, vũ khí chính trị là Mặt Trận và Liên Minh, Thiệu hầu như chắc chắn phải chịu lép vế. Nên Việt Nam không/chưa cần ra đòn quân sự, trái lại đã truyền lệnh cho các đơn vị miền Nam phải ngưng bắn, án binh bất động.</p>
<p style="text-align: justify">Mỹ-Thiệu biết đây là giai đoạn khó khăn nên đã tận lực khai thác, lợi dụng sự án binh bất động này của quân Giải phóng mà &#8220;tiên hạ thủ vi cường&#8221; (đánh trước chiếm ưu thế), mong giành lấy thế thượng phong về quân sự trong giai đoạn mới.</p>
<p style="text-align: justify">Chữ ký của Mỹ-ngụy còn chưa khô mực vào hiệp định có những nội dung sau, thì họ đã mau chóng không giữ lời:</p>
<blockquote>
<p style="text-align: justify"><em>Hoa Kỳ và các nước cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam như đã quy định trong hiệp định Genève 1954.</em></p>
</blockquote>
<p style="text-align: justify">Những hành động phá hoại hiệp định nói trên đã không cho thấy điều đó.</p>
<blockquote>
<p style="text-align: justify"><em>Hoa Kỳ phải hoàn toàn chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân viễn chinh và quân chư hầu, &#8220;cố vấn&#8221; và chuyên viên quân sự, vũ khí và dụng cụ chiến tranh, hủy bỏ tất cả các căn cứ quân sự Mỹ, cam kết không tiếp tục dính líu quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam.</em></p>
</blockquote>
<p style="text-align: justify">Mỹ tiếp tục can thiệp mạnh mẽ và nắm chính trị, quân sự, kinh tế ở miền Nam. Tiếp tục cung cấp vũ khí và tiền bạc cho Nguyễn Văn Thiệu. Duy trì chế độ thực dân mới. Rút đại quân nhưng để lại hàng vạn sĩ quan &#8220;cố vấn&#8221; và nhân viên quân sự mặc thường phục, khắp miền Nam vẫn đầy người Mỹ.</p>
<p style="text-align: justify">Sau năm 1973, lính Mỹ có quay lại Việt Nam trong các đợt rời rạc, đặc biệt là lính Thủy quân Lục chiến. Việc quân chính quy Mỹ rút đi và chấm dứt các chiến dịch quân sự trực tiếp do thực binh Mỹ tiến hành không có nghĩa sau năm 1973 không còn người Mỹ, sĩ quan Mỹ, quân nhân Mỹ nào ở Việt Nam. Mỹ cam kết trong hiệp định rằng sẽ phá đổ các căn cứ quân sự Mỹ, nhưng họ đã bội ước và chuyển giao lại cho quân đội Sài Gòn.</p>
<blockquote>
<p style="text-align: justify"><em>Các bên để cho nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị của họ thông qua tổng tuyển cử tự do. Các bên công nhận thực tế miền Nam Việt Nam có hai chính quyền (chính quyền Cộng hòa miền Nam Việt Nam và chính quyền Sài Gòn), hai quân đội (Quân Giải phóng miền Nam và quân đội Sài Gòn), hai vùng kiểm soát (vùng giải phóng và vùng tạm chiếm) và ba lực lượng chính trị (Cộng hòa miền Nam Việt Nam, chính quyền Sài Gòn, lực lượng thứ ba).</em></p>
</blockquote>
<p style="text-align: justify">Mỹ-Thiệu phá hoại tổng tuyển cử, và cuộc bầu cử đã không bao giờ diễn ra được. Họ không từ bỏ ý định duy trì chủ nghĩa thực dân mới đối với miền Nam Việt Nam, cố gắng bám víu, sử dụng nơi đây như một căn cứ quân sự khổng lồ của Mỹ và là một thuộc địa kiểu mới. Họ đã tiếp tục tiến hành cuộc chiến tranh thực dân mới trên quy mô lớn. Mỹ đã tăng cường cung cấp quân sự và chu cấp kinh tế cho chính quyền bù nhìn, vẫn duy trì bộ máy chỉ huy cuộc chiến, với hàng vạn &#8220;cố vấn&#8221; và nhân viên quân sự người Mỹ đội lốt dân sự.</p>
<blockquote>
<p style="text-align: justify"><em>Các bên ngừng bắn tại chỗ, trao trả cho nhau tù binh và dân thường bị bắt.</em></p>
</blockquote>
<p style="text-align: justify">Hàng vạn tù binh và dân thường Việt Nam đến ngày 30/4/1975 mới được tự do khi Côn Đảo và Phú Quốc được giải phóng. Trước ngày 30/4 các tù nhân, tù binh phía Việt Nam vẫn đầy ở Côn Đảo, Phú Quốc và nhiều nơi khác, không hề được trao trả theo hiệp định.</p>
<p style="text-align: justify"><strong>Ngộ nhận:</strong><em> Chính quyền Sài Gòn bị Mỹ bỏ rơi sau sự kiện ký kết hiệp định Paris 1973. Sau khi Hoa Kỳ rút đại binh về nước thì đã cúp hoặc giảm lớn viện trợ ngay cho chính quyền Sài Gòn. Trong khi đó, Liên Xô, Trung Quốc và khối xã hội chủ nghĩa tăng cường viện trợ hoặc vẫn duy trì viện trợ như cũ cho Hà Nội.</em></p>
<p style="text-align: justify"><strong>Thực tế:</strong> Nhà báo, nhà sử học người Mỹ Gabriel Kolko, tác giả cuốn sách Anatomy of a War: Vietnam, the United States, and the Modern Historical Experience (Giải phẫu một cuộc Chiến tranh: Việt Nam, Hoa Kỳ, và trải nghiệm lịch sử hiện đại) do NXB Pantheon Books New York, ấn hành năm 1985, cho biết sau khi hiệp định Paris 1973 được ký kết thì người Mỹ đã cho ông Thiệu mọi phương tiện để vi phạm hiệp định, họ cam kết tiếp tục trợ cấp đầy đủ về kinh tế và quân sự cho chính quyền Nguyễn Văn Thiệu; Mỹ công nhận chính quyền Nguyễn Văn Thiệu là &#8220;chính quyền hợp pháp duy nhất ở miền Nam Việt Nam&#8221;; không thừa nhận chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và thành phần chính trị thứ ba, như đã thỏa thuận trong hiệp định Paris.</p>
<p style="text-align: justify">Theo nguồn của NXB Thông Tấn, Hà Nội, viện trợ quân sự tài khóa 1973-1974 của Mỹ dành cho chính quyền Nguyễn Văn Thiệu là 1,26 tỷ USD theo giá thời đó, tương đương 6,74 tỷ USD ngày nay.</p>
<p style="text-align: justify">Theo thống kê của chuyên gia kinh tế học Douglas C. Dacy trong sách Foreign Aid, War, and Economic Development: South Vietnam, 1955-1975 (Viện trợ nước ngoài, Chiến tranh, và Phát triển kinh tế: Nam Việt Nam, 1955-1975), do Đại học Cambridge (Anh) xuất bản năm 1986 và 2005, ngay sau năm 1973 (sau khi hiệp định Paris 1973 được ký kết), đến năm 1974, bên cạnh duy trì viện trợ quân sự thì Hoa Kỳ đã tăng viện trợ kinh tế cho chính quyền Sài Gòn 23,8%.</p>
<p style="text-align: justify">Theo các tài liệu của Quân đội Nhân dân Việt Nam, sau năm 1973, sự giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa cho Việt Nam đã giảm đột biến, tổng số tấn vũ khí và thiết bị quân sự được viện trợ giảm từ 171.166 tấn/năm trong thời kỳ 1969-1972 giảm xuống còn 16.415 tấn/năm trong thời kỳ 1973-1975.</p>
<p style="text-align: justify">Theo văn kiện <em>&#8220;<strong><a href="/su-that-ve-quan-he-viet-nam-trung-quoc-trong-30-nam-qua-phan-1.html" rel="nofollow" title="Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua"  target="_blank">Sự thật về quan hệ Việt Nam &#8211; Trung Quốc 30 năm qua</a></strong>&#8220;,</em> do Bộ ngoại giao CHXHCN Việt Nam giải mật và NXB Sự Thật xuất bản năm 1979, giai đoạn sau năm 1973 là lúc mà Trung Quốc ngày càng bộc lộ ý đồ phản bội, đi đêm với Mỹ sau lưng nhân dân Việt Nam, cũng như trước đó họ đã cố tình can thiệp vào hội nghị Paris về Việt Nam nhưng bị Việt Nam từ chối.</p>
<p style="text-align: justify">Ngoài ra, theo các tướng tá cũ của quân đội Sài Gòn như Dương Văn Minh, Nguyễn Hữu Hạnh, Nguyễn Chánh Thi, thì vào những ngày cuối tháng 4/1975, Trung Quốc đã thông qua tướng Francois Vanussème, tùy viên quốc phòng và an ninh của Tòa đại sứ Pháp ở Sài Gòn để chuyển đến &#8220;tổng thống&#8221; Dương Văn Minh ý định can thiệp của Trung Quốc để cứu chính quyền Sài Gòn đang trong cơn nguy kịch, giữ lại tình trạng chia cắt Việt Nam. Người Trung Quốc muốn thông qua người Pháp là vì ông Dương Văn Minh là một người thân Pháp, đã từng phục vụ trong quân đội Pháp.</p>
<p style="text-align: justify"><strong>Ngộ nhận:</strong> <em><strong><a href="/wikileaks-tiet-lo-ve-van-chuyen-16-tan-vang-sang-my.html" rel="nofollow" title="Wikileaks tiết lộ về tẩu tán 16 tấn vàng của Việt Nam sang Mỹ (Kỳ 1)"  target="_blank">Nguyễn Văn Thiệu lấy cắp 16 tấn vàng</a></strong> và &#8220;báo chí Hà Nội có chủ trương khai thác đề tài này để rêu rao tuyên truyền bôi xấu tổng thống Nguyễn Văn Thiệu&#8221;.</em></p>
<p style="text-align: justify"><strong>Thực tế:</strong> Theo cựu nhân viên tình báo CIA chi nhánh Sài Gòn Frank Snepp trong sách Decent Interval (Khoảng thời gian tao nhã), do Penguin Books xuất bản năm 1980, thì đêm 25 tháng 4, các nhân viên CIA đã đưa Trần Thiện Khiêm và Nguyễn Văn Thiệu ra đi với danh nghĩa là đặc sứ của &#8220;Việt Nam Cộng hòa&#8221; đến Đài Bắc (Đài Loan) để phúng điếu Tưởng Giới Thạch (qua đời ngày 5 tháng 4). Và khi đó Thiệu không còn quyền lực gì đối với 16 tấn vàng vẫn nằm nguyên vẹn trong hầm chứa của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam. Còn dư luận thì vẫn bán tín bán nghi về tin đồn ông Thiệu mang vàng đi, dù đã có tuyên bố cải chính của chính quyền Sài Gòn ngày 16/4/1975.</p>
<p style="text-align: justify">Trong Hồ sơ mật dinh Độc Lập, tác giả Nguyễn Tiến Hưng viết: Nguyễn Văn Hảo vào gặp &#8220;tổng thống&#8221; Trần Văn Hương và dọa rằng: <em>&#8220;Nếu tổng thống cho phép chuyển số vàng ấy ra ngoại quốc thì trong trường hợp tướng Minh (tức ông Dương Văn Minh) lên thay, tổng thống sẽ bị lên án là phản quốc!&#8221;.</em> Ông Hương đồng ý giữ vàng lại. Sáng ngày 24 tháng 4 (một ngày trước khi ông Thiệu rời Việt Nam), ông Hảo điện cho cố vấn kinh tế đại sứ quán Mỹ Denny Ellerman, nói rằng: &#8220;Tổng thống&#8221; Trần Văn Hương đã quyết định hoãn vô thời hạn việc chuyển vàng ra khỏi Việt Nam, cho đến khi một chính phủ mới được thành lập.</p>
<p style="text-align: justify">Đại sứ Graham Martin ngạc nhiên trước tin này, nhưng ông ta cũng không cho Trần Văn Hương hủy bỏ lệnh ấy mà quyết định tạm để vàng ở lại vì nó có thể nâng cao vị thế nào đó của chính quyền Sài Gòn khi thương lượng với phía kháng chiến. Ông lệnh cho chiếc máy bay tiếp tục đợi cho đến nửa đêm ngày 27 tháng 4. Sau này khi trả lời phỏng vấn Ts. Nguyễn Tiến Hưng ngày 27/3/1985, Martin kể:<em> &#8220;Vào lúc chót, tôi có nghĩ đến việc liên lạc với người bạn cũ ở Thái Lan là tư lệnh không quân Dhawee Chulasapaya. Sau đó, kêu gọi thêm một số thủy quân lục chiến Thái Lan bay qua Sài Gòn để giải phóng số vàng, mang nó đi. Nhưng chỉ nghĩ thế thôi…. Vàng vẫn còn lại ở đó&#8221;.</em></p>
<p style="text-align: justify">Như vậy, Nguyễn Văn Thiệu không có và không cần lấy cắp 16 tấn vàng đem đi vì tài sản của ông ta, kể cả bên Mỹ, là đã dư dả cho ông ta và con cháu sống sung túc cả đời. Báo chí cách mạng Việt Nam cũng chưa bao giờ có chủ trương tuyên truyền về một tay sai Mỹ nên không có chủ trương khai thác vụ 16 tấn vàng để bôi nhọ Thiệu.</p>
<p style="text-align: justify">Từ đầu tháng 4 năm 1975, khi Nguyễn Văn Thiệu vẫn còn tại vị, một số tờ báo nước ngoài đã bắt đầu đăng tải tin về kế hoạch chuyển 16 tấn vàng ra nước ngoài với sự ám chỉ về một âm mưu chiếm đoạt của ông ta. Chính báo giới Sài Gòn là những cơ quan truyền thông đầu tiên đưa tin về sự kiện này. Tuy có báo đăng tuyên bố cải chính của chính quyền Sài Gòn, nhưng sau khi ông Thiệu đã ra đi, ngày 28 tháng 4, báo Độc Lập (một tờ báo của ngụy quyền) đã trích dẫn lại một bản tin của hãng thông tấn Reuters về chuyến ra đi của ông Nguyễn Văn Thiệu: <em>&#8220;Tin Reuters ghi nhận liền sau khi đoàn người Nguyễn Văn Thiệu cùng tùy tùng xuống phi cơ và được đưa vào phòng khách danh dự, một số hàng hơn 10 tấn cũng đã được cất xuống theo&#8221;.</em> Các báo chí khác, trong và ngoài nước, đã viết tường thuật nói ông Thiệu đã bỏ trốn với một số lượng vàng lớn lấy đi từ ngân khố của chính phủ Việt Nam Cộng hòa.</p>
<p style="text-align: justify">Trong buổi họp báo và trả lời phỏng vấn được thực hiện vào ngày 16/6/1990 tại Orange County, California, để &#8220;giải oan&#8221; cho mình, Nguyễn Văn Thiệu đã thừa nhận việc<em> &#8220;cộng sản đăng báo khen ngợi những tên viên chức ngân hàng phản bội&#8221;</em> và &#8220;những tên công chức ngân hàng đã dùng vàng tâng công với cộng sản rằng không có tấn vàng nào bị mất trên báo chí cộng sản&#8221; (trong đó có ông Huỳnh Bửu Sơn, người giữ chìa khóa kho vàng, từng làm việc trong ban lãnh đạo Nha Phát hành Ngân hàng Quốc gia). Như vậy, có thể thấy rằng không có chủ trương khai thác chuyện 16 tấn vàng để tuyên truyền chống ông Thiệu trên báo chí.</p>
<p style="text-align: justify">Ngay sau khi giải phóng các nhân vật coi giữ tài chính của ngụy quyền đã ra hợp tác ngay với chính quyền cách mạng. Báo chí cách mạng khi đó đã đăng tải các phỏng vấn đầy đủ rằng nhờ tài trí của quân dân và công lớn của những viên chức ngụy quyền giác ngộ cách mạng nên nhân dân đã không bị mất 1 xu.</p>
<p style="text-align: justify">Như thế rõ ràng là không có chính sách tuyên truyền nói xấu Thiệu hay tuyên truyền gì về 16 tấn vàng. Sở dĩ tin đồn thất thiệt này được vang xa có lẽ một phần do nhân dân vốn đã không ưa Thiệu, rồi cứ thế một đồn mười, mười đồn trăm, rồi sau đó nhiều nhà báo do không nắm vững nên cũng viết lại theo các lời đồn. Nhưng nhiều phần là do chính những quan chức tham nhũng trong bộ máy ngụy quyền vì tham lam nên đã ghen ăn tức ở mà nghi ngờ và tố nhau ăn cắp vàng. Thời điểm ấy quả thật nhiều kẻ muốn thừa cơ lấy cắp vàng đi trốn, song không ai ngờ quân Giải phóng lại đánh nhanh và giải quyết nhanh đến như vậy, họ chưa kịp làm thì cách mạng đã đánh tới. Bọn họ ghét nhau và rất ghen ghét Thiệu nên chính bọn họ đã đồn đại lên, cộng với sự oán ghét của quần chúng Sài Gòn dành cho Thiệu và ngụy quyền Sài Gòn, nên tiếng xấu càng đồn xa.</p>
<p style="text-align: justify"><em><strong>Sau đây là một số ngộ nhận thường nghe, thường thấy từ những người Mỹ và cả một bộ phận công chúng quốc tế:</strong></em></p>
<p style="text-align: justify"><strong>Ngộ nhận:</strong> <em>Những tội ác của quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam đúng là rất phổ biến, nhưng đó là do sơ ý, vô tình, vô ý thức, giết nhầm, các hung thủ bị ảnh hưởng từ tác động của ma túy, tâm thần, sự khốc liệt của chiến tranh. Họ công nhận các tội ác và họ lên án nó, nhưng đồng thời họ ngộ nhận nguyên nhân tội ác. Họ lầm tưởng những hành động cố sát là những hành động nông nỗi xuất phát từ một trạng thái tâm lý bất bình thường, mất cân bằng, sự khủng hoảng về tư tưởng, tâm lý, tinh thần trong lửa đạn.</em></p>
<p style="text-align: justify"><strong>Thực tế:</strong> Phần ngay ở trên: <em>&#8220;Những tội ác chiến tranh được các nhân chứng và nhà nghiên cứu độc lập ghi nhận&#8221; đ</em>ã cho biết thực tế chuyện gì đã xảy ra. Phần lớn những tội ác chiến tranh đó từ đâu mà có.</p>
<p style="text-align: justify"><strong>Ngộ nhận:</strong><em> Quân đội Hoa Kỳ tuy thua cuộc chiến, nhưng Lục quân Hoa Kỳ chưa từng thua Việt Cộng một trận đánh nào trên chiến trường miền Nam Việt Nam.</em></p>
<p style="text-align: justify"><strong>Thực tế:</strong> Giáo sư Đại học DeAnza (Mỹ) Michael Kelley trong bài tham luận tháng 7 năm 1998 <em>&#8220;Myths &amp; Misconceptions: Vietnam War Folklore&#8221;</em> (Truyền thuyết &amp; quan niệm sai lầm: Các &#8220;sự tích dân gian&#8221; về Chiến tranh Việt Nam), đã viết về ngộ nhận này như sau:</p>
<blockquote>
<p style="text-align: justify"><em>&#8220;Truyền thuyết này có nguồn gốc từ sự thiếu hiểu biết hơn là sự phân tích hợp lý. Nó hoàn toàn bỏ qua thực tế là kẻ thù của chúng ta đã tiến hành chiến tranh du kích phụ thuộc vào chiến thuật &#8216;bắn rồi chạy&#8217; (hit-and-run) thiết kế để tránh ưu thế hỏa lực áp đảo của Mỹ. Những người ủng hộ thuyết này dựa trên những thước đo cổ điển của lý thuyết chiến tranh thông thường, nghĩa là, bất cứ ai nắm giữ mặt đất sau khi kết thúc trận đánh thì là người chiến thắng. Nhưng xem sự sáng suốt của các chiến thuật thực tế ở đó (Việt Nam), sẽ là công bằng để nói rằng người Mỹ đã thua nhiều trận đánh.</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Trong khi sự thật là quân đội Mỹ đã chiếm được mặt đất tại thời điểm kết thúc trong hầu hết các trận đánh, kẻ thù thường chọn thời điểm buông tha vị trí đó sau khi đã hoàn thành các kế hoạch chiến lược quan trọng. Và sau đó vài giờ thì chiến trường thường xuyên vẫn bị người Mỹ bỏ rơi. Kẻ thù gần như luôn luôn buông ra lãnh thổ ngay sau khi nó đã gây cho quân đội Mỹ lúng túng và bực bội.</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Tại Việt Nam, chiến thắng tốt nhất có thể được đo bằng cách xem một lực lượng đạt được mục tiêu của mình trong bất kỳ hoạt động nào. Trên cơ sở đó, quân Bắc Việt / Việt Cộng có thể đã thành công nhiều hơn so với người Mỹ, thực tế là khoảng 85% các hoạt động quân sự, tất cả các địa điểm đánh nhau đã được khởi xướng bởi kẻ thù. Thậm chí nếu tính theo kiểu Mỹ thông thường thì người Mỹ vẫn đã thua một số lượng đáng kể các trận đánh. Trong các cuộc đụng độ lớn đầu tiên của cuộc chiến tranh trong các thung lũng sông Ia Đrăng (Tây Nguyên), tháng 11 năm 1965, ở đó, cả một tiểu đoàn 1 Kỵ binh của Mỹ đã thật sự bị tiêu diệt khi nó vấp vào một trung đoàn Bắc Việt. Khoảng 155 người đã thiệt mạng và 121 người bị thương chỉ trong vài giờ giao tranh ngắn ngủi. &#8220;Chiến thắng&#8221; chắc chắn không phải là từ ngữ trên môi của bất kỳ người Mỹ nào đủ may mắn để tồn tại trong đám cháy đó.</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Vào ngày 2/7/1967, trong quá trình hoạt động, hai tiểu đoàn 1 và 9 Thủy quân Lục chiến đã bị một trung đoàn Bắc Việt phục kích. Chỉ có một trung đội duy nhất còn sống sót để kể lại câu chuyện. Nó không nhiều trong số ít những người tự coi mình là kẻ chiến thắng. Các tổn thất đáng kể như vậy đều khá phổ biến trong suốt cuộc chiến. Trong những cuộc tấn công, quân Bắc Việt / Việt Cộng thường thành công hoàn toàn trong mục tiêu của họ.&#8221;</em></p>
</blockquote>
<p style="text-align: justify"><strong>Ngộ nhận:</strong> <em>Lính Mỹ chỉ gây tội ác với dân, còn đối với lính Sài Gòn thì xử tốt, nhân đạo, nhân văn. Lính Mỹ và lính Sài Gòn phối hợp tác chiến ăn ý.</em></p>
<p style="text-align: justify"><strong>Thực tế:</strong> CIA đã đứng sau giật dây đảo chính, lật đổ các &#8220;nhà lãnh đạo&#8221; trong ngụy quyền. Máy bay ném bom Mỹ thường xuyên &#8220;dội bom nhầm&#8221; lên trên quân lính, sĩ quan, tướng tá ngụy, thủ tiêu bằng nhiều hình thức khác nhau, gây ra nhiều cái chết mờ ám cho cả những quan chức cao cấp ngụy quyền, ví dụ các tướng Đỗ Cao Trí, Nguyễn Văn Hiếu. Trong khi chưa bao giờ có các trường hợp không quân ngụy &#8220;dội bom nhầm&#8221; lên quân Mỹ. Ngay cả trong ngụy quân, ngụy quyền, nhiều người cũng cho rằng đây là những động thái trừ khử những người/nhóm Mỹ không ưa, hoặc để răn đe làm gương cho những người khác. Chuẩn tướng quân đội Sài Gòn Nguyễn Hữu Hạnh, trả lời phóng viên của đài BBC Việt ngữ vào năm 2010, đã nói như sau:<em> &#8220;Tôi nói thật, trong tất cả các đời tổng thống Việt Nam Cộng hòa, ai mà Mỹ không ưa thì người ấy bị hất đổ ngay.&#8221;</em></p>
<p style="text-align: justify">Giáo sư Micheal Kelley nói trên đã viết tiếp về ngộ nhận này như sau:</p>
<blockquote>
<p style="text-align: justify"><em>Tôi không có ý định xúc phạm các độc giả gốc Việt Nam, nhưng một số những gì sẽ được thảo luận ở đây có thể là rất khó chịu cho họ nghe. Những gì sẽ được nói là những khái quát dựa trên những quan sát thực tế của tôi về các thái độ và hành vi của lính Mỹ tại Việt Nam. Có thể có những trường hợp ngoại lệ, nhưng báo cáo này là một nỗ lực trung thực để định lượng những gì tôi đã thấy và trải nghiệm.</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Trước khi phục vụ ở đó, hầu hết các nhân viên Mỹ rất ít hiểu biết về đất nước Việt Nam, hay có ít nhiều kiến ​​thức về các nền văn hóa và phong tục dân tộc của nó. Sự thiếu hiểu biết đó trở nên phức tạp bởi sự thất bại nghiêm trọng của quân đội để cung cấp nội dung đào tạo trong vấn đề đó. Người lính bộ binh trung bình có lẽ chỉ tốn 1 hoặc 2 giờ được đào tạo về nền văn hóa và lịch sử Việt Nam. Vẫn có những người khác không hề được đào tạo gì về đất nước họ sẽ sinh sống và chiến đấu trong ít nhất một năm. Kết quả là, các thái độ và hành động của người Mỹ đã bị biến dạng bởi những sự hiểu biết rất hạn chế về các dân tộc Việt Nam.</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Đáng buồn thay, tôi đã có thể nói rằng hầu hết quân nhân Mỹ phát triển sự mất lòng tin cơ bản và sự căm ghét đối với Việt Nam nói chung, người Bắc hay Nam Việt Nam không quan trọng. Các thái độ thô lỗ, kiêu căng và cao ngạo của Mỹ tôi nghĩ rằng đó là công bằng để nói rằng người Việt Nam cũng phát triển một tâm lý ghét Mỹ ngược lại.</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Các ý kiến ​​của quân đội Mỹ về quân lính VNCH hầu như đều là tiêu cực, nếu không nói là hoàn toàn khinh ghét. Các sĩ quan VNCH đã đạt được thứ hạng là nhờ sự giàu có và ảnh hưởng chính trị hơn là kỹ năng thực tài. Kết quả quân đội VNCH đã lười biếng và không đủ năng lực theo tiêu chuẩn quân đội Mỹ.</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Trên thực tế, trong hầu hết các trận giao tranh, QLVNCH tránh tiếp xúc địch như một niềm tin tôn giáo và vô cùng nhút nhát trong việc giải quyết chiến trường với kẻ thù. Những chuyện này đã gây thất vọng và tức giận cho quân đội Hoa Kỳ. Nhiều binh sĩ Mỹ ngày nay vẫn giữ quân lực VNCH trong một tâm lý khinh bỉ lớn, bởi vì họ không muốn xuất hiện để đấu tranh cho sự tồn tại của họ.</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Trong nhiều trường hợp, QLVNCH thậm chí không dám tiếp cận kẻ thù và dựa dẫm, lệ thuộc vào quân đội Mỹ bất cứ khi nào có thể. Quan chức chính phủ Việt Nam Cộng hòa thường xuyên bị xem thường bởi những người lính trung bình. Tham nhũng là phổ biến và được che đậy vụng về. Rõ ràng chúng tôi thấy có rất nhiều quan chức chính phủ quan tâm hơn vào việc tham lam bòn rút hơn việc đánh nhau và giành thắng trước Việt Cộng.</em></p>
<p style="text-align: justify"><em>Trong nhiều trường hợp, nó có vẻ rõ ràng rằng các quan chức Việt Nam Cộng hòa đã chơi cả hai cách, vẫy cờ Việt Nam Cộng hòa trong một tay và lá cờ Giải phóng ở tay kia. Mặt khác, trong khi những người lính trung bình của Mỹ có thể không thích đối phương, song hầu hết đều có một sự tôn trọng khả năng chiến đấu, lòng can đảm và quyết tâm của họ. Nhiều người trong số chúng tôi đều kinh ngạc trước những khó khăn và chịu đựng của đối phương. Rõ ràng hầu hết bọn họ là những người đàn ông và phụ nữ cực kỳ dũng cảm, ngoan cường, tháo vát và thật sự tin tưởng vào sự nghiệp của họ. Trái lại, quân đội VNCH đã không sở hữu những thuộc tính đó và còn tương phản đáng ngạc nhiên, hiện thực đó đã đặt câu hỏi nghiêm trọng trong tâm trí của chúng tôi về sự tham gia của những người lính chúng tôi. Nhiều hơn một vài người trong chúng ta đã đem cảm giác khó chịu của Mỹ đi quá xa. Đáng buồn thay, nội dung cơ bản của tâm lý phân biệt chủng tộc đó đã chiếm ưu thế và thường điều chỉnh thái độ và hành động đối với người Việt Nam của chúng tôi. Đó là hoàn cảnh không may làm lem luốt quan hệ của chúng tôi với người Việt. Nó cũng dẫn đến nhiều hiểu lầm, những sai lầm ngu ngốc và trong một số trường hợp để lại hậu quả rất bi thảm.&#8221;</em></p>
</blockquote>
<p style="text-align: justify">Xuất phát từ tâm lý thù địch với người Việt Nam, kể cả trong hàng ngũ lính ngụy, và tâm lý chán nản, bất lực trước một cuộc chiến khó khăn vô vọng tìm không ra cách thắng, theo Gs. Micheal Kelley, các hạ sĩ quan Mỹ thời đó hay nói đùa với nhau một câu cửa miệng như sau:<em> &#8220;Để thắng cuộc chiến này, tất cả những gì chúng ta cần làm là đặt tất cả người Nam Việt Nam trên tàu thuyền ở biển Nam Trung Hoa và sau đó tấn công hạt nhân cho hai miền thành than. Sau đó, chúng ta cho tàu chìm.&#8221;</em></p>
<blockquote>
<p style="text-align: justify"><strong><span style="text-decoration: underline">Xem tiếp</span>: <a href="/toan-canh-cuoc-doi-dau-lich-su-viet-my-1954-1975-ky-6.html" rel="nofollow" title="Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt - Mỹ 1954-1975 (Kỳ 6)"  target="_blank">Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt – Mỹ 1954-1975 (Kỳ 6)</a></strong></p>
</blockquote>
<p style="text-align: justify">(Blogger Thiếu Long)</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://trandaiquang.net/toan-canh-cuoc-doi-dau-lich-su-viet-my-1954-1975-ky-5.html/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Indonesia muốn bán vận tải cơ CN295 cho Việt Nam</title>
		<link>http://trandaiquang.net/indonesia-muon-ban-van-tai-co-cn295-cho-viet-nam.html</link>
		<comments>http://trandaiquang.net/indonesia-muon-ban-van-tai-co-cn295-cho-viet-nam.html#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 25 May 2013 05:19:15 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Ban Biên Tập</dc:creator>
				<category><![CDATA[An ninh - Quốc phòng]]></category>
		<category><![CDATA[Indonesia]]></category>
		<category><![CDATA[không quân]]></category>
		<category><![CDATA[máy bay]]></category>
		<category><![CDATA[van tai]]></category>
		<category><![CDATA[Việt Nam]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://trandaiquang.net/indonesia-muon-ban-van-tai-co-cn295-cho-viet-nam.html</guid>
		<description><![CDATA[Không quân Indonesia sẽ đưa vận tải cơ chiến thuật CN295 tới Việt Nam trình diễn. Mục đích của việc này có lẽ không ngoài ý chào bán. Theo thông tin từ hãng Airbus Military, vận tải cơ chiến thuật [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>Không quân Indonesia sẽ đưa vận tải cơ chiến thuật CN295 tới Việt Nam trình diễn. Mục đích của việc này có lẽ không ngoài ý chào bán.</p>
<p>Theo thông tin từ hãng Airbus Military, vận tải cơ chiến thuật CN295 của Không quân Indonesia sẽ có một chuyến lưu diễn vòng quanh 6 nước ASEAN để quảng bá khả năng vận chuyển hiệu quả của mẫu máy bay được hãng PT Dirgantara Indonesia (PTDI) và Airbus Military hợp tác sản xuất. <span id="more-42623"></span></p>
<p>Dự kiến, chuyến đi của CN295 sẽ đi qua các nước Philippines, Brunei, Việt Nam, Malaysia, Myanmar và Thái Lan trong khoảng thời gian từ ngày 22 đến ngày 31/5. Chuyến đây này có lẽ không nằm ngoài mục đích chào bán CN295 cho các nước Đông Nam Á.</p>
<div id="attachment_161764" class="wp-caption aligncenter" style="width: 590px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/may-bay-van-tai-sap-ban-vn-1.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161764" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/may-bay-van-tai-sap-ban-vn-1.jpg" alt="" width="580" height="420" /></a><p class="wp-caption-text">Máy bay vận tải CN295 của Indonesia.</p></div>
<p>Chuyến đi được Bộ Quốc Phòng Indonesia, PTDI và Airbus Military tổ chức và được Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Indonesia Sjafrie Sjamsuddien dẫn đầu đoàn. Tại mỗi nước, CN295 sẽ phô diễn khả năng thực hiện nhiều nhiệm vụ cứu trợ nhân đạo cũng như quốc phòng.</p>
<p>Không quân Indonesia có 2 chiếc CN295 đang hoạt động trong số 9 chiếc được đặt hàng từ PTDI. Dự kiến cả 9 chiếc sẽ được đưa vào hoạt động trong Không quân Indonesia vào năm 2015.</p>
<p>Vận tải cơ chiến thuật CN295 do PT Dirgantara Indonesia (PTDI) và Airbus Military hợp tác sản xuất. CN295 được trang bị 2 động cơ tuốc bin cánh quạt cho phép đạt tốc độ tối đa gần 600km/h, tầm bay tới 4.600km. Nó có khả năng chở 71 người hoặc hơn 9 tấn hàng hóa.</p>
<p>(BKT)</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://trandaiquang.net/indonesia-muon-ban-van-tai-co-cn295-cho-viet-nam.html/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Cận cảnh lính công binh Việt Nam thầm lặng đối mặt với tử thần</title>
		<link>http://trandaiquang.net/can-canh-linh-cong-binh-viet-nam-tham-lang-doi-mat-voi-tu-than.html</link>
		<comments>http://trandaiquang.net/can-canh-linh-cong-binh-viet-nam-tham-lang-doi-mat-voi-tu-than.html#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 25 May 2013 04:24:56 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Ban Biên Tập</dc:creator>
				<category><![CDATA[An ninh - Quốc phòng]]></category>
		<category><![CDATA[chiến sĩ đặc công]]></category>
		<category><![CDATA[hình ảnh đặc công việt nam]]></category>
		<category><![CDATA[đặc công]]></category>
		<category><![CDATA[đặc công nước]]></category>
		<category><![CDATA[Đặc công Việt Nam]]></category>
		<category><![CDATA[đặc nhiệm việt nam]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://trandaiquang.net/can-canh-linh-cong-binh-viet-nam-tham-lang-doi-mat-voi-tu-than.html</guid>
		<description><![CDATA[Chiến tranh đã lùi xa, dân tộc Việt Nam đang sống trong ấm no hòa bình, độc lập tự do. Khúc ruột miền Trung – Tây Nguyên trước đây oằn mình gánh chịu bom, đạn của kẻ thù cũng đã [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>Chiến tranh đã lùi xa, dân tộc Việt Nam đang sống trong ấm no hòa bình, độc lập tự do. Khúc ruột miền Trung – Tây Nguyên trước đây oằn mình gánh chịu bom, đạn của kẻ thù cũng đã hồi sinh tươi tốt. Nhưng ẩn sâu trong lòng đất vẫn còn đó những hậu quả của chiến tranh để lại. Bom, mìn, đạn chưa nổ và cả những vùng đất bị ô nhiễm về chất độc hóa học Di-ô-xin vẫn gây ra những tang thương cho người dân vô tội.</p>
<p><span id="more-42608"></span><br />
Nhiều năm qua, các cơ quan, tổ chức và đặc biệt là lực lượng bộ đội Công binh vẫn miệt mài ngày đêm dò tìm, xử lý, tiêu hủy bom, mìn, vật liệu nổ trên các mảnh nương, rẫy, khu dân cư… cố gắng xóa sạch những vùng đất bị ô nhiễm bởi bom, mìn.<br />
Cuộc chiến thầm lặng ấy vẫn hết sức ác liệt và gian khổ, không quản tính mạng ngàn cân treo sợi tóc, những người lính rà phá bom mìn vẫn miệt mài đối mặt với tử thần để mang lại cuộc sống bình yên cho người dân.</p>
<p>Xin gửi đến độc giả một số hình ảnh về công tác rà, phá bom mìn của lực lượng Công binh trên địa bàn Miền Trung – Tây Nguyên.</p>
<div id="attachment_161686" class="wp-caption aligncenter" style="width: 590px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/doi-mat-tu-than-do-bom-vn-1.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161686" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/doi-mat-tu-than-do-bom-vn-1.jpg" alt="" width="580" height="420" /></a><p class="wp-caption-text">Cán bộ, chiến sĩ Công ty Trường An thuộc Bộ Tổng tham mưu thực hiện dò gỡ bom, mìn trên địa bàn xã Hòa Nhờ, huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng</p></div>
<div id="attachment_161689" class="wp-caption aligncenter" style="width: 590px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/doi-mat-tu-than-do-bom-vn-2.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161689" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/doi-mat-tu-than-do-bom-vn-2.jpg" alt="" width="580" height="444" /></a><p class="wp-caption-text">Máy dò nông được sử dụng phổ biển, máy có khả năng phát hiện bom, đạn ở độ sâu từ 1-3m</p></div>
<div id="attachment_161695" class="wp-caption aligncenter" style="width: 590px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/doi-mat-tu-than-do-bom-vn-3.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161695" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/doi-mat-tu-than-do-bom-vn-3.jpg" alt="" width="580" height="435" /></a><p class="wp-caption-text">Ngoài ra các lực lượng công binh còn được trang bị máy dò sâu Valloon EC1303A1 có khả năng dò sâu đến 5m.</p></div>
<div id="attachment_161694" class="wp-caption aligncenter" style="width: 590px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/doi-mat-tu-than-do-bom-vn-4.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161694" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/doi-mat-tu-than-do-bom-vn-4.jpg" alt="" width="580" height="385" /></a><p class="wp-caption-text">Phát hiện một quả bom loại 250 cân Anh ở độ sâu hơn 2m.</p></div>
<div id="attachment_161691" class="wp-caption aligncenter" style="width: 590px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/doi-mat-tu-than-do-bom-vn-5.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161691" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/doi-mat-tu-than-do-bom-vn-5.jpg" alt="" width="580" height="451" /></a><p class="wp-caption-text">Gian khó, vất vả, hiểm nguy-đó là những gì người lính công binh phải đối mặt khi làm nhiệm vụ dò, gỡ bom, mìn sót lại sau chiến tranh</p></div>
<div id="attachment_161687" class="wp-caption aligncenter" style="width: 590px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/doi-mat-tu-than-do-bom-vn-6.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161687" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/doi-mat-tu-than-do-bom-vn-6.jpg" alt="" width="580" height="394" /></a><p class="wp-caption-text">Ngay sát khu dân cư phường Hòa Quý quận Ngũ Hành Sơn (Đà Nẵng) lực lượng Trung tâm dò phá bom mìn 20 thuộc Tổng công ty 36 phát hiện một quả bom ở độ sâu khoảng 1m</p></div>
<div id="attachment_161688" class="wp-caption aligncenter" style="width: 590px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/doi-mat-tu-than-do-bom-vn-7.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161688" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/doi-mat-tu-than-do-bom-vn-7.jpg" alt="" width="580" height="435" /></a><p class="wp-caption-text">Bom, mìn, vật liệu nổ được quy tập chờ đưa đi hủy nổ</p></div>
<div id="attachment_161692" class="wp-caption aligncenter" style="width: 590px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/doi-mat-tu-than-do-bom-vn-8.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161692" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/doi-mat-tu-than-do-bom-vn-8.jpg" alt="" width="580" height="709" /></a><p class="wp-caption-text">Anh Nguyễn Hưng (1973) ở Tổ 1 phường Hòa Thọ Tây, quận Cẩm Lệ, bị mù 2 mắt, chân, tay, bụng bị nhiều vết thương nặng do vướng phải mìn khi đi chăn trâu năm 1985</p></div>
<div id="attachment_161693" class="wp-caption aligncenter" style="width: 590px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/doi-mat-tu-than-do-bom-vn-9.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161693" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/doi-mat-tu-than-do-bom-vn-9.jpg" alt="" width="580" height="428" /></a><p class="wp-caption-text">Nhóm Phóng viên Báo Quân đội nhân dân trao quà cho A Luyện ở làng Kon Trang Kép, xã Đắkla, huyện Đắk Hà (Kon Tum) nạn nhân duy nhất sống sót sau vụ nổ lựu đạn 9-11-2007. 3 đứa trẻ chăn trâu cùng Luyện là A Cảo, A Thế, A Luy bị chết tại chỗ khi quả lựu đạn phát nổ.</p></div>
<div id="attachment_161690" class="wp-caption aligncenter" style="width: 590px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/doi-mat-tu-than-do-bom-vn-10.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161690" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/doi-mat-tu-than-do-bom-vn-10.jpg" alt="" width="580" height="378" /></a><p class="wp-caption-text">Những bản làng mới với những con đường uốn lượn như dải lụa trên vùng đất đỏ Ba zan phì nhiêu rợp màu xanh tươi tốt của cây cà phê, tiêu… Có ai biết chúng được mọc lên từ những bãi mìn dày đặc trước kia. Sự sống đang được hồi sinh trên “vùng đất chết” là do một phần công sức không nhỏ của những người chiến sĩ công binh.</p></div>
<p>(BGD)</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://trandaiquang.net/can-canh-linh-cong-binh-viet-nam-tham-lang-doi-mat-voi-tu-than.html/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Philippines mua tàu sân bay để đối phó với Trung Quốc</title>
		<link>http://trandaiquang.net/philippines-mua-tau-san-bay-de-doi-pho-voi-trung-quoc.html</link>
		<comments>http://trandaiquang.net/philippines-mua-tau-san-bay-de-doi-pho-voi-trung-quoc.html#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 25 May 2013 03:27:32 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Ban Biên Tập</dc:creator>
				<category><![CDATA[An ninh - Quốc phòng]]></category>
		<category><![CDATA[Hải quân]]></category>
		<category><![CDATA[Philippines]]></category>
		<category><![CDATA[tau chien]]></category>
		<category><![CDATA[tau san bay]]></category>
		<category><![CDATA[Tây Ban Nha]]></category>
		<category><![CDATA[Thái Lan]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://trandaiquang.net/philippines-mua-tau-san-bay-de-doi-pho-voi-trung-quoc.html</guid>
		<description><![CDATA[Bộ Quốc phòng Philippines đang quan tâm đến khả năng mua tàu sân bay hạng nhẹ &#8220;Principe de Asturias&#8221; của Tây Ban Nha để đối phó với Trung Quốc ngày càng mạnh bạo. Nếu mua chiếc tàu sân bay (TSB) [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>Bộ Quốc phòng Philippines đang quan tâm đến khả năng mua tàu sân bay hạng nhẹ &#8220;Principe de Asturias&#8221; của Tây Ban Nha để đối phó với Trung Quốc ngày càng mạnh bạo.</p>
<p>Nếu mua chiếc tàu sân bay (TSB) này, Philippines sẽ trở thành quốc gia thứ hai ở Đông Nam Á sau Thái Lan, sở hữu TSB; và là nước châu Á thứ tư sở hữu hàng không mẫu hạm sau Ấn Độ, Thái Lan và mới đây là Trung Quốc.<span id="more-42598"></span></p>
<p>Chiếc tàu sân bay Principe de Asturias vừa được đưa ra khỏi biên chế Hải quân Tây Ban Nha từ đầu tháng 2/2013. Theo báo Tây Ban Nha lavozdigital, trong trường hợp nếu hợp đồng cung cấp tàu được ký kết, &#8220;Principe de Asturias&#8221; sẽ được hiện đại hóa và tái trang bị phù hợp theo các yêu cầu của khách hàng ở xưởng đóng tàu Navantia.</p>
<div id="attachment_161614" class="wp-caption aligncenter" style="width: 590px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/phil-mua-tau-san-bay-1.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161614" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/phil-mua-tau-san-bay-1.jpg" alt="" width="580" height="420" /></a><p class="wp-caption-text">TSB Hoàng tử Asturias biểu diễn lần cuối trước khi chia tay Hải quân Hoàng gia Tây Ban Nha hôm 6/2/2013 vừa qua.</p></div>
<p>Tờ báo cho biết một số quốc gia Ả Rập và châu Á cũng thể hiện sự quan tâm đến tàu sân bay Tây Ban Nha, tuy nhiên Bộ Quốc phòng nước này không tiết lộ chính xác là những nước nào. Trước đó, Bộ Quốc phòng Indonesia cũng quan tâm đến khả năng mua tàu, nhưng họ đã từ bỏ kế hoạch này sau khi phái đoàn Indonesia thị sát tàu sân bay. Nguyên nhân khước từ không được nêu cụ thể.</p>
<p>Principe de Asturias là lớp tàu sân bay hạng nhẹ, có lượng giãn nước 17.000 tấn, chiều dài tổng thể 195,9m, chiều dài boong phóng máy bay 174,1m, chiều rộng 24,3m.</p>
<p>Tàu được bàn giao cho Hải quân Tây Ban Nha ngày 30/5/1988, với sức chứa 29 máy bay cánh cố định cất cánh trên đường băng ngắn và 12-17 máy bay cánh quạt trên boong hoặc máy bay cất cánh thẳng đứng.</p>
<div id="attachment_161620" class="wp-caption aligncenter" style="width: 590px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/phil-mua-tau-san-bay-2.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161620" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/phil-mua-tau-san-bay-2.jpg" alt="" width="580" height="386" /></a><p class="wp-caption-text">Hoàng tử Asturias khi còn hoạt động với máy bay cất cánh thẳng đứng AV-8 Harrier II trên lưng.</p></div>
<p>Philippines không lạ lẫm gì với các hoạt động của tàu sân bay. Nước này đã từng là một trong những chiến trường quan trọng và quyết định giữa Hải quân Mỹ và Hải quân Nhật Bản trong cuộc Chiến tranh Thế chiến lần thứ 2. Một trong các trận hải chiến nổi tiếng đã xảy ra tại Philippines là Trận chiến Vịnh Leyte có sự tham gia của 8 chiếc tàu sân bay của Mỹ, thuộc một phần của lực lượng đặc nhiệm hải quân đã đánh bại hạm đội của Nhật Bản do một tàu sân bay hạm đội dẫn đầu.</p>
<p>Trong bối cảnh hiện nay, việc Trung Quốc biên chế tàu sân bay Liêu Ninh, có nghĩa là để theo kịp sức mạnh hải quân của Trung Quốc và bảo vệ chủ quyền, một chiếc tàu sân bay sẽ là một lực lượng đem lại nhiều lợi ích đối với Philippines. Sức mạnh vượt trội của hải quân Trung Quốc trên biển Đông đã cho thấy sự cần thiết của một lực lượng hải quân hiện đại và được trang bị tốt để đối phó với mối đe dọa này.</p>
<div id="attachment_161619" class="wp-caption aligncenter" style="width: 590px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/phil-mua-tau-san-bay-3.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161619" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/phil-mua-tau-san-bay-3.jpg" alt="" width="580" height="386" /></a><p class="wp-caption-text">Hoàng thái tử Tây Ban Nha Filippe tại lễ tiễn Hoàng tử Asturias về hưu sau 25 năm phục vụ Hải quân Hoàng gia.</p></div>
<p>Chiếc tàu sân bay HTMS Chakri Naruebet của Hải quân Hoàng gia Thái Lan cũng là chiếc tàu cùng lớp với tàu Principe de Asturias, đã được bàn giao năm 1997. Mặc dù không được biên chế các máy bay cất cánh thẳng đứng Boeing AV-8S Matador trên tàu, nhưng tàu sân bay của Thái Lan đã được chứng minh là rất quan trọng đối với Thái Lan đặc biệt là trong các hoạt động tuần tra và cứu trợ nhân đạo trên biển.</p>
<p>Tháng 3/1992, chính phủ Thái Lan và Tây Ban Nha ký kết thỏa thuận đóng mới tàu sân bay hạng nhẹ dựa trên thiết kế lớp tàu Principe de Asturias. Chi phí đóng tàu này khoảng 336 triệu USD. Tàu sân bay Chakri Naruebet của có thiết kế gần giống với loại tàu sân bay Principe de Asturias với cầu trượt dốc 12 độ phù hợp cho quá trình cất cánh của loại chiến đấu cơ phản lực có khả năng cất, hạ cánh thẳng đứng trên đường băng ngắn như phản lực chiến đấu AV-8 Harrie II của Không quân Hoàng gia Anh.</p>
<p>Tàu sân bay Chakri Naruebet chủ yếu phục vụ hỗ trợ lực lượng hải quân Thái Lan trong chiến lược bảo vệ vùng biển chủ quyền của nước này, đồng thời nó cũng có thể thực hiện các nhiệm vụ như một chiến hạm chỉ huy, hỗ trợ các biên đội tàu chiến, giải cứ nạn nhân gặp thảm hoạ thiên tai. Tàu sân bay Chakri Naruebet được triển khai ở một căn cứ quân sự trên đóng trên Vịnh Thái Lan.<a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/phil-mua-tau-san-bay-4.jpg" rel="nofollow" ><img class="aligncenter size-full wp-image-161621" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/phil-mua-tau-san-bay-4.jpg" alt="" width="580" height="387" /></a></p>
<p><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/phil-mua-tau-san-bay-5.jpg" rel="nofollow" ><img class="aligncenter size-full wp-image-161617" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/phil-mua-tau-san-bay-5.jpg" alt="" width="580" height="377" /></a></p>
<div id="attachment_161615" class="wp-caption aligncenter" style="width: 590px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/phil-mua-tau-san-bay-6.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161615" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/phil-mua-tau-san-bay-6.jpg" alt="" width="580" height="386" /></a><p class="wp-caption-text">Máy bay phản lực AV-8 Harrier II cất cánh từ boong tàu Asturias</p></div>
<p>Chakri Naruebet có kích thước boong dài 174,6 mét; rộng 27,5 mét. Diện tích này đủ khả năng cung cấp cho 5 trực thăng chiến đấu cất và hạ cánh cùng lúc. Mũi tàu được thiết kế có độ dốc 12 độ nhằm hỗ trợ quá trình cất cánh của các phản lực cơ chiến đấu. Phần nhà chứa máy bay ẩn dưới boong tàu có thể để được 10 trực thăng tầm trung hoặc 10 phản lực cơ loại Harrier.</p>
<p>Tàu sân bay Chakri Naruebet của quân đội Thái Lan được trang bị 6 trực thăng săn ngầm Sikorsky S-70B Seahawk; 6 phản lực cất, hạ cánh trên đường băng ngắn Matador AV-8S (phiên bản Harrier dành riêng cho hải quân Tây Ban Nha do BAE System của Anh chế tạo).</p>
<p>Chakri Naruebet có  thể chạy với tốc độ tối đa đạt 20 knot (tương đương 37 km/giờ); tốc độ hành trình trung bình khoảng 16 knot (tương đương 29 km/giờ). Tàu được lắp đặt hai chân vịt dạng tấm cùng 4 thiết bị cân bằng bố trí quanh thân dưới của tàu. Hệ thống chiến đấu của tàu sân bay Chakri Naruebet là loại AN/UYK-43C Lowboy có khả năng nhất thể hoá các loại vũ khí trang bị trên tàu do FABA của Tây Ban Nha sản xuất.</p>
<div id="attachment_161618" class="wp-caption aligncenter" style="width: 590px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/phil-mua-tau-san-bay-7.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161618" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/phil-mua-tau-san-bay-7.jpg" alt="" width="580" height="435" /></a><p class="wp-caption-text">Asturia là chiếc TSB hạng nhẹ, nó còn nhỏ hơn rất nhiều so với chiếc tàu đổ bộ mang tên vua Joan Carlos (L61) bên cạnh</p></div>
<p>Tàu sân bay của hải quân Thái Lan được trang bị hệ thống phóng tên lửa hải đối không Mk 41 sử dụng tên lửa loại Seasparrow. Loại tên lửa này có tầm bắn hiệu quả trong phạm vi 14 km với tốc độ 2,5 Mach. Ngoài ra, tàu cũng được trang bị 3 dàn phóng Sadral sử dụng tên lửa chống máy bay tầm ngắn Mistral có khả năng đánh chặn các tên lửa chống hạm của đối phương.</p>
<p>Trên thân tàu Chakri Naruebet cũng được bố trí hai ụ súng máy hải quân cỡ nòng 30 mm. Các hệ thống ra đa, định vị được lắp đặt trên tàu Chakri Narubet gồm: hệ thống ra đa dò tìm mục tiêu trên không tầm trung Raytheon AN/SPS-52C 3-D sử dụng băng tần E hoặc F; ra đa kiểm soát và hỗ trợ trực thăng Kelvin Hughes, ra đa định vị Kelvin Hughes I-band; hệ thống định vị vệ tinh MX 1105 Transit/GPS Omega; hệ thống định vị URN 25 Tacan.<a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/phil-mua-tau-san-bay-8.jpg" rel="nofollow" ><img class="aligncenter size-full wp-image-161616" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/phil-mua-tau-san-bay-8.jpg" alt="" width="580" height="435" /></a></p>
<p>Tàu sân bay của Thái Lan sử dụng hệ thống động cơ or Gas Turbines (CODOG) gồm 2 cặp turbine khí GE LM-2500 (công suất 44.250 mã lực ở tốc độ 3.600 vòng/phút) và các máy dầu Diesel loại Izar-MTU 16V1163 TB83 (công suất 6.437 mã lực ở tốc độ 1.200 vòng/phút).</p>
<p>Khi hoạt động trên biển, tàu sân bay Chakri Naruebet luôn được hộ tống bởi 2 tàu khu trục Lớp Naresuan của hải quân hoàng gia Thái Lan hộ tống.</p>
<p>(NDT)</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://trandaiquang.net/philippines-mua-tau-san-bay-de-doi-pho-voi-trung-quoc.html/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Mỹ dùng máy bay săn ngầm P-3 có thể biến Trung Quốc thành kẻ &#8220;mù loà&#8221;</title>
		<link>http://trandaiquang.net/my-dung-may-bay-san-ngam-p-3-co-the-bien-trung-quoc-thanh-ke-mu-loa.html</link>
		<comments>http://trandaiquang.net/my-dung-may-bay-san-ngam-p-3-co-the-bien-trung-quoc-thanh-ke-mu-loa.html#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 25 May 2013 03:15:50 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Ban Biên Tập</dc:creator>
				<category><![CDATA[An ninh - Quốc phòng]]></category>
		<category><![CDATA[không quân]]></category>
		<category><![CDATA[máy bay]]></category>
		<category><![CDATA[máy bay chiến đấu]]></category>
		<category><![CDATA[Mỹ]]></category>
		<category><![CDATA[quân sự]]></category>
		<category><![CDATA[Trung Quốc]]></category>
		<category><![CDATA[vũ khí]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://trandaiquang.net/my-dung-may-bay-san-ngam-p-3-co-the-bien-trung-quoc-thanh-ke-mu-loa.html</guid>
		<description><![CDATA[Mỹ tính sử dụng máy bay tuần tra săn ngầm P-3 để theo dõi máy bay tuần tra TQ &#8211; theo dõi tàu sân bay Mỹ, tìm cách biến TQ thành kẻ mù lòa. Ngày 23 tháng 5, trang mạng [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>Mỹ tính sử dụng máy bay tuần tra săn ngầm P-3 để theo dõi máy bay tuần tra TQ &#8211; theo dõi tàu sân bay Mỹ, tìm cách biến TQ thành kẻ mù lòa.</p>
<p>Ngày 23 tháng 5, trang mạng quân sự “Strategy Page” Mỹ đăng bài viết cho rằng, trong tình hình Trung Quốc điều máy bay tuần tra trên biển tầm xa tới khu vực Tây Thái Bình Dương để “tìm kiếm tàu chiến Mỹ, đặc biệt là tàu sân bay”, Mỹ đang tính toán khôi phục các biện pháp giống như đối phó với máy bay tuần tra trên biển của Nga thời kỳ Chiến tranh Lạnh, chủ yếu gồm có điều máy bay tuần tra săn ngầm P-3C để theo dõi máy bay Trung Quốc.<span id="more-42593"></span></p>
<p>Nhưng bài viết chỉ ra, phương án này của Mỹ có điểm hạn chế, bởi vì máy bay tuần tra săn ngầm P-3 muốn hoàn thành nhiệm vụ thì phải dựa vào tàu sân bay, điều này cũng có nghĩa là trong phạm vi 500 km xuất hiện của P-3 chắc chắn có sự hiện diện của tàu sân bay Mỹ.</p>
<div id="attachment_161609" class="wp-caption aligncenter" style="width: 590px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/may-bay-san-ngam-mu-loa-1.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161609" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/may-bay-san-ngam-mu-loa-1.jpg" alt="" width="580" height="420" /></a><p class="wp-caption-text">Máy bay tuần tra săn ngầm P-3C của Mỹ</p></div>
<p>Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Hải quân Mỹ hết sức tự tin, cho rằng Nga sẽ không phát hiện được tàu chiến Mỹ, đặc biệt là tàu sân bay. Máy bay tuần tra Mỹ thường theo dõi máy bay tuần tra Nga, do đó đã biết được vị trí của tàu chiến của quân Nga. Đồng thời cũng để ý tới, trong phần lớn thời gian, Nga không biết rõ vị trí của tàu chiến Mỹ. Đây cũng là lý do tại sao Mỹ lựa chọn sử dụng máy bay tuần tra săn ngầm P-3 hoặc các máy bay tuần tra cất cánh từ mặt đất khác.</p>
<div id="attachment_161608" class="wp-caption aligncenter" style="width: 590px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/may-bay-san-ngam-mu-loa-2.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161608" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/may-bay-san-ngam-mu-loa-2.jpg" alt="" width="580" height="387" /></a><p class="wp-caption-text">Tàu sân bay động cơ hạt nhân Mỹ</p></div>
<p>Bài viết đồng thời chỉ ra, đến nay số lượng vệ tinh radar của Trung Quốc từng bước tăng lên, những vệ tinh này có khả năng dò tìm tàu chiến trên biển. Nhưng, phương án sử dụng vệ tinh radar tìm kiếm tàu sân bay Mỹ khó được cho là hoàn hảo, bởi vì diện tích Thái Bình Dương lớn, radar chỉ có thể dò tìm được khu vực cục bộ. Biện pháp áp dụng của Mỹ chắc chắn cũng là muốn biến Trung Quốc thành kẻ “mù lòa”.</p>
<p>(BGD)</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://trandaiquang.net/my-dung-may-bay-san-ngam-p-3-co-the-bien-trung-quoc-thanh-ke-mu-loa.html/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Nhật-Mỹ muốn tăng cường sức mạnh trên Biển Đông cho Philippines</title>
		<link>http://trandaiquang.net/nhat-my-muon-tang-cuong-suc-manh-tren-bien-dong-cho-philippines.html</link>
		<comments>http://trandaiquang.net/nhat-my-muon-tang-cuong-suc-manh-tren-bien-dong-cho-philippines.html#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 25 May 2013 03:12:13 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Ban Biên Tập</dc:creator>
				<category><![CDATA[An ninh - Quốc phòng]]></category>
		<category><![CDATA[Hải quân]]></category>
		<category><![CDATA[Nhật Bản]]></category>
		<category><![CDATA[Philippines]]></category>
		<category><![CDATA[quân sự]]></category>
		<category><![CDATA[tau chien]]></category>
		<category><![CDATA[Trung Quốc]]></category>
		<category><![CDATA[vũ khí]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://trandaiquang.net/nhat-my-muon-tang-cuong-suc-manh-tren-bien-dong-cho-philippines.html</guid>
		<description><![CDATA[Ngoài tự đầu tư của Philippines, Mỹ-Nhật cũng tích cực giúp Philippines tăng cường sức mạnh quân sự trên biển Đông, tranh chấp phải dựa vào thực lực. Tờ “Thời báo Hoàn Cầu” Trung Quốc vừa cho biết, Philippines vừa [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>Ngoài tự đầu tư của Philippines, Mỹ-Nhật cũng tích cực giúp Philippines tăng cường sức mạnh quân sự trên biển Đông, tranh chấp phải dựa vào thực lực.</p>
<p>Tờ “Thời báo Hoàn Cầu” Trung Quốc vừa cho biết, Philippines vừa phát đi tín hiệu mới &#8211; Tổng thống Philippines Benigno Aquino tuyên bố: “Philippines tăng cường xây dựng quân đội chống lại thế lực xấu”. <span id="more-42592"></span></p>
<p>Theo báo chí Philippines, ngày 21 tháng 5, ông Aquino cho biết, Philippines sẽ đầu tư 1,8 tỷ USD để tăng cường xây dựng quân đội, đến năm 2017 Philippines sẽ mua sắm 2 tàu hộ vệ, 2 máy bay trực thăng chống tàu ngầm, 3 thuyền máy tuần tra bờ biển và 8 tàu tấn công đổ bộ, đồng thời tăng cường hệ thống thông tin, tình báo và do thám.</p>
<p>Ngoài việc Philippines tự đầu tư cực kỳ tốn kém, Mỹ cũng đóng vai trò quan trọng trong tăng cường sức mạnh quân sự của Philippines. Tàu chiến lớp Hamilton cũ của Mỹ hầu như cho không Philippines, từ ngày 22 tháng 5 tiến hành chạy thử liên tục trong 3 ngày ở vùng biển duyên hải của Mỹ nhằm kiểm tra hệ thống đẩy và vận hành &#8220;hệ thống tình báo do thám&#8221; của tàu chiến.</p>
<div id="attachment_161596" class="wp-caption aligncenter" style="width: 590px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/tau-hai-quan-trang-bi-ho-tro-1.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161596" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/tau-hai-quan-trang-bi-ho-tro-1.jpg" alt="" width="580" height="420" /></a><p class="wp-caption-text">Tàu tuần tra lớp Peacock của Hải quân Philippines</p></div>
<p>Trước đó, Mỹ tuyên bố, khi chuyển giao tàu lớp Hamilton này cho Philippines thì Mỹ sẽ dỡ bỏ hệ thống vũ khí trên tàu và toàn bộ hệ thống radar, tình báo do thám tiên tiến.</p>
<p>Tuy nhiên, phóng viên &#8220;Thời báo Hoàn Cầu&#8221;  đã tuyên truyền rằng, dựa trên các yêu cầu tiếp theo của Philippines, Quân đội Mỹ cuối cùng quyết định giữ lại hệ thống radar và tình báo, trinh sát, thậm chí đã nâng cấp hệ thống trinh sát tầm xa cho tàu này, từ đó bảo đảm cho tàu này khi được triển khai ở biển Đông sẽ có &#8220;năng lực trinh sát ngoài tầm nhìn&#8221; đối với tàu chiến của Trung Quốc và Đài Loan.</p>
<p>Đối với vấn đề này, Philippines chỉ bỏ ra 15,15 triệu USD cho việc nâng cấp con tàu cũ này. Đáp lại, Philippines đồng ý chia sẻ tin tức tình báo, trinh sát với Hạm đội Thái Bình Dương Mỹ.</p>
<div id="attachment_161600" class="wp-caption aligncenter" style="width: 590px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/tau-hai-quan-trang-bi-ho-tro-2.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161600" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/tau-hai-quan-trang-bi-ho-tro-2.jpg" alt="" width="580" height="405" /></a><p class="wp-caption-text">Tàu vận chuyển binh sĩ PS71 của Hải quân Philippines</p></div>
<p>Một nước cũng tích cực vũ trang cho Hải quân Philippines như Mỹ là Nhật Bản. Ngày 23 thasg 5 tờ &#8220;Asahi Shimbun&#8221; Nhật Bản cho biết, nội các Shinzo Abe đã xác định phương châm thông qua Chính phủ Nhật Bản khai thác tiền viện trợ cung cấp tàu tuần tra cho Philippines.</p>
<p>Tháng 4 năm 2012, &#8220;nhằm vào các hoạt động dồn dập của Trung Quốc trên biển&#8221;, Nhật Bản đã xác định kế hoạch dùng tiền viện trợ phát triển của Chính phủ cung cấp tàu tuần tra cho các nước châu Á-Thái Bình Dương. Philippines là quốc gia đầu tiên &#8220;được lợi&#8221;.</p>
<div id="attachment_161598" class="wp-caption aligncenter" style="width: 590px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/tau-hai-quan-trang-bi-ho-tro-3.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161598" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/tau-hai-quan-trang-bi-ho-tro-3.jpg" alt="" width="580" height="367" /></a><p class="wp-caption-text">Tàu khu trục PS74 của Hải quân Philippines</p></div>
<p>Tờ &#8220;Washington Post&#8221; Mỹ cho biết, từ khi Trung Quốc kiểm soát bãi cạn Scarborough vào năm 2012 đến nay, một cảnh tượng thường thấy trong các làng chài Philippines như thương nhân buôn bán cá Legupi cho biết &#8211; Quân đội Philippines trang bị không đủ, không phải là đối thủ của Quân đội Trung Quốc, đã &#8220;không còn hy vọng gì&#8221; đối với bãi cạn Scarborough.</p>
<div id="attachment_161599" class="wp-caption aligncenter" style="width: 590px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/tau-hai-quan-trang-bi-ho-tro-4.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161599" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/tau-hai-quan-trang-bi-ho-tro-4.jpg" alt="" width="580" height="435" /></a><p class="wp-caption-text">Tàu chiến tiên tiến nhất của Hải quân Philippines</p></div>
<div id="attachment_161597" class="wp-caption aligncenter" style="width: 590px"><a href="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/tau-hai-quan-trang-bi-ho-tro-5.jpg" rel="nofollow" ><img class="size-full wp-image-161597" src="http://cdn9.trandaiquang.net/files/2013/05/tau-hai-quan-trang-bi-ho-tro-5.jpg" alt="" width="580" height="435" /></a><p class="wp-caption-text">Tàu tuần tra BRP Gregorio del Pilar lớp Hamilton của Philippines, mua của Mỹ</p></div>
<p>Tờ &#8220;Le Monde&#8221; Pháp bình luận, bắt đầu từ bãi cạn Scarborough, Trung Quốc đã thể hiện tư thế quyết đoán của họ trên biển Đông. Tranh chấp chủ quyền rõ ràng phải dựa vào thực lực.</p>
<p>(BGD)</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://trandaiquang.net/nhat-my-muon-tang-cuong-suc-manh-tren-bien-dong-cho-philippines.html/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
